Xuân Cầu

Wednesday, June 8, 2016

Giới thiệu chung

Làng Xuân Cầu là một làng có từ lâu đời ở xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Xuân Cầu, xưa kia còn có tên gọi là Hoa Cầu, Huê Cầu, Xuân Kỳ. Làng có từ đời nhà Đường, trong làng còn có 4 giếng đá kiểu Trung Quốc. Đời vua Thiệu Trị, vì kỵ húy đổi là Xuân Kỳ nhưng nhân dân quen dùng tên cũ, mà đọc chệch đi là Huê Cầu. Làng có nghề nhuộm thâm từng đi vào ca dao cổ tích, và món đặc sản là bánh mỡ nổi tiếng. Nhưng gần đây đã thất truyền và trong làng, những di tích xưa cũng không còn.

Ai lên Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm
Nào ai đi chợ Thanh Lâm
Mua anh một áo vải thâm hạt dền.

 


Đặc sản:

Bánh Xuân Cầu

Bánh Xuân cầu là loại bánh rán mỡ thường được dùng rất phổ biến tại miền Bắc xưa kia, nay đã mai một [2]. Bánh vuông bằng hai ngón tay và mỏng như tờ giấy bản, được bỏ vào chảo chiên phồng, nở phồng với nhiều màu sắc tươi đẹp, ăn với mật ong, có vị ngọt, béo, bùi và thơm [2].

Vải thâm Xuân Cầu

Theo truyền thuyết thì nghề nhuộm vải thâm ở Huê Cầu (Xuân Cầu) cũng có ngót nghét 2.000 năm [1]. Thuốc nhuộm là củ nâuCủ nâu - Dioscorea cirrhosa Lour., thuộc họ Củ nâu - Dioscoreaceae.

Mô tả: Dây leo, thân tròn, nhẵn, có nhiều gai ở gốc, có 1-2 củ mọc từ một mấu ở gốc thân, trên mặt đất, hình tròn, vỏ sần sùi, màu xám nâu, thịt đỏ hay hơi trắng. Lá đơn, hình tim dài độ 20cm, mọc so le ở gần ngọn. Hoa mọc thành bông. Quả nang có cuống thẳng, có cạnh. Hạt có cánh xung quanh.

Bộ phận dùng: Củ - Rhizoma Dioscoreae Cirrhosae, thường có tên là Thự lương.

Nơi sống và thu hái: Cây mọc hoang ở vùng rừng núi của nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh Lào Cai, Quảng Ninh, Hà Tây, Thanh hoá, Nghệ An. Có khi được trồng. Là cây thường dùng để nhuộm vải lưới cho có màu nâu bền. Cũng dùng để thuộc da. Củ thường được bán ở các chợ nông thôn và thành phố. Tuỳ theo màu sắc của nhựa, màu đỏ nhạt, màu xám nhạt, màu vàng nhạt hay hơi hồng, mà người ta gọi tên Củ nâu dọc đỏ, củ nâu dọc trai và củ nâu trắng. Củ nâu dọc trai dùng nhuộm tốt hơn.

Thành phần hoá học: Củ chứa nhiều tanin catechic (đến 6,4%) và có tinh bột.

Tính vị, tác dụng: Củ nâu có vị ngọt, chua và se, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, sát trùng, cầm máu, hoạt huyết, cầm ỉa.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ngoài việc dùng để nhuộm. Củ nâu có thể dùng ăn. Người ta gọt bỏ vỏ ngoài đem ngâm dưới suối nước chảy nhiều ngày đêm cho hết chất chát, mới có thể dùng luộc ăn. Củ nâu được dùng làm thuốc chữa các chứng tích tụ hòn báng, xích bạch đới, băng huyết, ỉa chảy và lỵ. Ở Trung Quốc, Củ nâu dùng chữa: 1. Chảy máu tử cung, xuất huyết trước khi sinh; 2. Ho ra máu, thổ huyết, ỉa ra máu, đái ra máu; 3. Viêm ruột, lỵ; 4. Thấp khớp tạng khớp, liệt nhẹ nửa người. Dùng ngoài trị bỏng, đòn ngã tổn thương, đinh nhọt và viêm mủ da, bị thương chảy máu. Liều dùng 10-15g, dạng thuốc sắc; bên ngoài nghiền củ để đắp.
, đun trong nước lá sòiSòi - Sòi, Sòi xanh - Sapium sebiferum (L.) Roxb., thuộc họ Thầu dầu - Euphorbiaceae.

Mô tả: Cây gỗ rụng lá cao 6-15m. Lá mọc so le, hình quả trám, dài 3-7cm, chóp lá thuôn nhọn, cuống lá dài có tuyến. Hoa đơn tính, màu trắng vàng hay vàng, mọc thành bông ở nách lá hoặc đầu cành. Hoa cái nhiều, ở gốc, hoa đực ở trên. Hoa đực có đài hình đầu phân thuỳ hoặc có răng, nhị 2, bao phấn gần hình cầu. Hoa cái có đài hợp, 2-3 thuỳ và nhuỵ 3, bầu hình trứng có 3 ô. Quả hạch hình cầu có 3 hạt.

Cây ra hoa tháng 6-8, quả tháng 10-11.

Bộ phận dùng: Vỏ rễ, vỏ thân, lá, hạt - Cortex Radicis, Cortex et Folium Sapii Sebiferi. Vỏ rễ thường có tên là Ô cữu căn bì

Nơi sống và thu hái: Cây của Ðông Á châu ôn đới và cận nhiệt đới, mọc hoang ở vùng đồi núi. Có khi được trồng làm cây cảnh. Thu hái vỏ rễ và vỏ cây quanh năm, thái nhỏ và phơi khô. Lá thường dùng tươi.

Thành phần hoá học: Vỏ rễ chứa xanthoxylin, acid tanic.

Tính vị, tác dụng: Sòi có vị đắng, tính hơi ấm, có độc; có tác dụng sát trùng, giải độc, lợi niệu, thông tiện, tiêu thũng, trục thuỷ.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa:
1. Phù thũng, giảm niệu, táo bón;
2. Bệnh sán máng, cổ trướng, xơ gan;
3. Viêm gan siêu vi trùng;
4. Ngộ độc nhân ngôn;
5. Rắn độc cắn.

Thân và lá dùng chữa viêm mủ da, ngứa lở thấp chẩn, chai cứng. Dùng vỏ rễ 3-6g, lá 9-15g, đun sôi lấy nước uống. Giã lá tươi để đắp ngoài, hoặc nấu nước để rửa.

Ở Vân Nam (Trung Quốc) còn được dùng trị tiểu tiện không thông, viêm âm đạo.

Ðơn thuốc:
1. Phù thũng, Rễ Sòi tươi, lấy màng thứ nhì 15g, đường 15g, đun sôi lấy nước uống.
2. Bệnh sán máng: Lá Sòi 8-30g, sắc uống. Dùng liền trong 20-30 ngày.
3. Phù thũng, cổ trướng, đại tiện không thông, ứ nước hoặc bí đầy, ăn uống không xuôi: Màng rễ Sòi (lớp trắng ở trong), Mộc thông, hạt Cau, mỗi vị 12g, sắc uống.
4. Ngộ độc: Lá Sòi 1 nắm giã nhỏ, chế nước vào, vắt lấy nước cốt uống.
(một loại cây thân gỗ mọc hoang), có nơi dùng lá bàng, hoặc hạt dền như trong câu ca dao, sau đó lấy bùn trát kín vài lần. Sau khi nhuộm xong, tấm vải có mầu đen thâm, không phai và tấm vải cực kỳ dai và bền, dày dặn nhưng mặc lại không nóng, không bí [1].


Danh nhân Làng Xuân Cầu

Làng Xuân Cầu còn có nhiều Danh nhân như: Họa sĩ Tô Ngọc Vân, nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhà cách mạng Tô Hiệu, nhà cách mạng Lê Văn Lương.

Tham khảo

  1. Vải nhuộm thâm làng Huê Cầu
  2. Vũ Bằng - Miếng ngon Hà Nội, bánh Xuân Cầu
  3. Thịt chuột ký sự
  4. Đặc sản bánh Xuân Cầu của làng đã bị mai một



Mời xem các bài về Xuân Cầu



Video Làng Xuân Cầu


Truyền hình Hưng Yên - HYTV


Danh nhân đất Việt: Thầy Đốc Nam

Tuesday, June 7, 2016
Lời Tiểu Dẫn Phả hệ họ Tô:

[...] Tô Ngọc Nữu, Cử NhânCử Nhân: có thể chỉ đến một trong các khái niệm sau:
• Cử nhân (học vị) - học vị dành cho người tốt nghiệp đại học (ngoại trừ ngành kỹ thuật).
• Bằng cử nhân - bằng tốt nghiệp đại học.
• Một tên gọi khác của Hương cống - một học vị trong hệ thống khoa bảng thời phong kiến ở Việt Nam.

Hương cống (chữ Nho 鄉貢) là một loại học vị trong hệ thống giáo dục Việt Nam thời phong kiến. Loại học vị này được xác định trong kỳ thi Hương.
Xem Thi Hương
khoa Canh Tuất (1850), nguyên Giáo thụGiáo thụ: Học quan ở một phủ coi việc học chính, dùng Cử nhân, quan hàng lục, thất phẩm (6-7/9). Thời Minh-Mệnh, quan hàng ngũ, thất phẩm (5-7/9). Xem Học quan. phủ Trường KhánhPhủ Trường Khánh: Có 2 thông tin:
1. Thuộc trấn [sau năm 1832 gọi là tỉnh] Lạng-Sơn; Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông định lại bản đồ toàn quốc, chia cả nước thành 12 thừa tuyên. Theo đó, Lạng Sơn được gọi là Lạng Sơn thừa tuyên gồm 1 phủ 7 châu (phủ Tràng Định và các châu: Châu Ôn, Lộc Bình, Yên Bác, Văn Uyên, Văn Lan, Thất Nguyên, Thoát Lãng). Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), vua Minh Mệnh đã bỏ đơn vị trấn và đặt đơn vị mới là tỉnh. Trấn Lạng Sơn được đổi thành tỉnh Lạng Sơn gồm 1 phủ và 7 châu (phủ Trường Khánh và các châu: châu Ôn, Lộc Bình, Thoát Lãng, Văn Uyên, Văn Quan, Thất Tuyền, Yên Bác). Trường Khánh sau đổi là Trường Định, tức huyện Trường Định (Tràng Định), tỉnh Lạng Sơn.
2. Thuộc tỉnh Ninh Bình.
, tựTên tự: Theo định nghĩa của Đại Từ Điển Tiếng Việt, tên tự là tên đặt dựa vào tên vốn có thường phổ biến trong giới trí thức thời phong kiến. Đối với dân gian xưa, tên tự còn được gọi là tên chữ vì các cụ thường dùng từ Hán Việt để đặt tên này.
Tên chữ ((表)字 - (biểu) tự) là tên gọi của một người vào thời gian trưởng thành của cuộc đời. Sau năm 20 tuổi, tên chữ sẽ được đặt thay cho tên gọi như một biểu tượng của sự trưởng thành và kính trọng. Tên chữ chỉ thường dùng cho nam giới, và thường do cha mẹ đặt tên, cũng có thể là thầy giáo đầu tiên trong buổi học đầu tiên đặt cho, hay thậm chí do chính bản thân tự đặt cho mình.
Theo quyển Lễ ký, sau khi một người đàn ông đến tuổi trưởng thành, sẽ rất thiếu kính trọng khi những người cùng lứa gọi ông ta bằng tên thực (名 - danh). Vì thế, tên thực chỉ dùng khi một người tự nói về bản thân mình hoặc để một người lớn hơn gọi, còn tên chữ sẽ được những người ngang lứa gọi nhau một cách long trọng hoặc dùng trong văn bản, nên mới được gọi là tên chữ.
Tên chữ thường có hai âm và thường dựa trên ý nghĩa của tên thực.
Xem thêm Tên tự
là Đính Phủ.

Nguyên tên tôi là Nữu (Nữu), trước nay vẫn viết một bên là chữ Kim (Kim), một bên là chữ Sửu (), tên tự là Đính Phủ thì chữ Đính (Đính) cũng có chữ Kim một bên, bên kia là chữ Đinh (Đinh) Nay theo điều lệ của bộ Lễ, chữ Kim là quốc húyQuốc húy: là việc tránh tên thật (tên húy) của đế vương và tổ tiên của ông ta. (tên Nguyễn Kim). Bởi vậy từ nay đổi lại: chữ Nữu thì thay bộ Kim bằng bộ Ngọc (Ngọc), bỏ tên tự Đính Phủ thay bằng tên tự mới là Ôn Như cho phải phép nước.



8 - Cụ Đinh Phủ, hiệu Trọng Liêu, thụy Trầm Ước, húy Ngọc Nữu.
Sinh ngày mùng 8 tháng 11 năm Đinh Sửu (1817).
Mất ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Sửu (1889).
Thọ 73 tuổi.

Đỗ Cử Nhân khoa Canh Tuất đời nhà Nguyễn (1850).
Năm Tân Hợi cụ đi thi hội văn lý dự đắc tứ phân mây? bổ giáo thụ phủ trường Khánh rồi kế tiếp: giáo thụ phủ Lý Nhân, Tri huyện Bình Lục, giáo thụ phủ Nghĩa Hưng, quyền Đốc học Nam Định hàm Văn lâm lang rồi về hưu trí.


Cụ có 3 cụ bà. (Cụ nọ chết lấy tiếp cụ kia).
Cụ chính thất
cưới năm Canh Dần là con gái cụ tiền chiêu văn quán Nguyễn Kỳ Phong tiên sinh người làng Xuân Cầu.
Mất ngày 9 tháng 6 năm Canh Thân (27/06/1860), tên hiệu là Quý Hiếu.

Cụ sinh được 4 con trai.
Tô Mậu tên tự là Bá Mậu.
Sinh ngày 15 tháng 7 năm Mậu Tuất (1837?) (1838).
Mất ngày mùng 1 tháng 2 năm Tân Dậu (1861)

Bà Tô Mậu họ Đặng hiệu Ngọc Thục. Mất ngày 22 tháng 3 năm Đinh Hợi 15/04/1887

Sinh được một con trai
Tô Xướng tên tự là Mỹ Phát tên hiệu là Tĩnh Trai
Sinh ngày 30 tháng 10 năm Canh Thân (12/11/1860). Mất ngày 16 tháng 4 năm Mậu Tý (26/05/1888). Đỗ Cử Nhân thứ 8 khoa Bính Tuất (1886).
Tô Phát tên tự là Xuân Dục.
Sinh tháng Giêng năm Quý Mão (6/2/1843).
Mất ngày 26 tháng 3 năm Mậu Tý (6/5/1888).
Bà Tô Phát họ Chu hiệu Dần Thục con cụ Đề lại người làng Triều đông xã Vĩnh Khúc. Mất ngày 21 tháng 3 năm Đinh Hợi (14/4/1887)

Sinh được 1 trai và 4 gái
Tô Thị Giá. Sinh ngày mùng 2 tháng 7 năm Giáp Tý (3/8/1864).
Tô Thị Mậu. Sinh ngày 16 tháng Giêng năm Đinh Mão (20/2/1867).
Tô Thị Thân. Sinh ngày 20 tháng 8 năm Nhâm Thân (Tân Mùi - theo GIA PHẢ HỌ TÔ - Tô Ngọc Nữu) (4/10/1871).
Tô Y. Sinh năm Đinh Sửu (1877). Sinh ra Tô Tu, Tô Hiệu, Tô Chấn, Tô Thị Xuyến, Tô Thị Phúc.
Tô Thị Năm. Sinh năm Tân Tỵ (1881).
Tô Sính tên tự là Trọng Đài
Sinh ngày mùng 1 tháng 3 năm Mậu Thân (1847?) (1848).
Mất ngày mùng 6 tháng 4 năm Mậu Tý (1888)

Bà Tô Sính họ Tô. Mất ngày 23 tháng Chạp âm lịch
Sinh được 3 trai và 3 gái
Tô Thị Noãn. Sinh ngày 10 tháng 11 năm Đinh Mão (1867).
Tô Tuân. Sinh ngày 18 tháng 2 năm Quý Dậu (1873). Sinh ra Tô Đê.
Tô Thị Thủ. Sinh năm Giáp Tuất (1874).
Tô Diễn. Sinh ngày 5 tháng 10 năm Mậu Dần (1878).
Tô Kỷ. Sinh năm Tân Tỵ (1881). Sinh ra Tô Nhu, Tô Quang Đẩu, Tô Tuấn.
Tô Thị Thành tức bà Cả Thành. Sinh năm Nhâm Ngọ (1882).
Tô Khanh tên tự là Thứ Công
Sinh ngày mùng 8 tháng 4 năm Ất Mão (1854?) (1855).
Mất ngày 29 tháng 3 năm Mậu Tý (1888)

Bà Tô Khanh họ Tô, con cụ Tú Thục. Mất ngày 24 tháng 5 năm Bính Tuất.
Cụ trắc thất
tên hiệu là Thủ Nhất
cưới năm Quý Hợi là con gái cụ cựu Ngự sử Đào phủ quân người làng Nhân Nội xã Vĩnh Bảo.
Mất ngày 18 tháng 12 năm Kỷ Tỵ.

Cụ sinh hạ được 2 con gái
Tô Thị Tư tức bà chánh Đồng Than.
Sinh ngày 15 tháng 10 năm Giáp Tý (1864).
Cụ sinh được 1 con gái là Phạm Thị Mệnh lấy con cụ Tú Nhân nội Văn Giang.
Tô Thị Dần tức bà Bát Ngọc Lịch.
Sinh ngày tháng 9 năm Bính Dần (1866).
Không có con.

Cụ trắc thất (thứ 2)
cưới năm Canh Ngọ là con gái cụ thông lại phủ Lý Nhân Nguyễn Phủ quân người làng Mọc quan nhân ngoại thành Hà Nội.
Mất ngày 16 tháng 7 âm lịch, tên hiệu là Diệu Tâm.

Cụ sinh hạ được 4 con gái
Tô Thị Bẩy vợ ông Tô nguyên là ông nội Lê Giản.
Sinh tháng 9 năm Ất Hợi (1875).
Sinh hạ được 4 trai và 1 gái
Tô Chuẩn
Tô Phiếm
Tô Chử
Tô Phái
Tô Thị Trị

Tô Thị Tám vợ ông Nguyễn Đạo Khung sinh ra Lê Văn Lương.
Sinh ngày 13 tháng 3 năm (Ất? Mão 1855) Kỷ Mão (1879).
Sinh hạ được 5 con trai và 2 con gái
Nguyễn Công Hân
Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Mỹ
Nguyễn Công Miều
Nguyễn Công Bồng
Nguyễn Thị Học
Nguyễn Thị Bình

Tô Thị Chín vợ ông Quản Xuân Đính
Sinh ngày 21 tháng 2 năm Nhâm Ngọ (1882).
Sinh hạ được 5 con trai và 2 con gái
Quản Xuân Bình
Quản Xuân Thi
Quản Xuân Ngữ
Quản Xuân Được
Quản Xuân Thỉnh
Quản Thị Giáp
Quản Thị Uất

Tô Thị Mười vợ ông Tô Xung tức Ấm Kinh
Sinh năm Giáp Thân (1884).
Sinh hạ được 1 trai và 1 gái.
Tô Chương
Tô Thị Đường

Mấy năm cuối đời cụ Đốc Nam từ năm Giáp Thân đến năm Mậu Tý (1884 – 1888) xảy ra nhiểu việc biến cố bất thường làm cho cụ đau buồn.
Năm Giáp Thân (1884) Tự Đức ký hiệp ước bán nước ta cho thực dân Pháp. Nhân cơ hội này bọn côn đồ nổi lên cướp đoạt tài sản của nhân dân trong đó tất cả đồ đạc sách vở của cụ bị bọn chúng cướp sạch. Cụ phải tạm lánh ra Bát Tràng.
Tiếp đến năm Bính Tuất (1886) con dâu thứ 4 là bà Tô Khanh chết.
Năm Đinh Hợi (1887) con dâu thứ 1 và thứ 2 là bà Tô Mậu, Tô Phát chết.
Năm Mậu Tý (1888) 3 con trai thứ 2,3,4 là các ông Tô Phát, Tô Sính, Tô Khanh và cháu đích tôn là bác Cử Nhân Tô Xướng chết.

Ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Sửu 1889 cụ cũng mất theo.

Chép lại theo bản photocopy
Tháng 3 năm 2007
Tô Thắng




Video đã phát trên VTV VN: vtv.vn/video/danh-nhan-dat-viet-thay-doc-nam-151746.htm


CHƯƠNG TRÌNH DANH NHÂN ĐẤT VIỆT VTV1:

CỤ ĐỐC NAM - CỤ TỔ TÔ NGỌC NỮU

_ Tô Thành _

Hôm nay, chủ nhật ngày 5/6 chương trình VTV1 đã chiếu một bộ phim truyền hình về Cụ Tổ dòng họ Tô - Xuân Cầu: Thầy Đốc Nam Tô Ngọc Nữu.
Bộ phim nói khá đầy đủ về cuộc đời dạy học của người thầy yêu nước, yêu trò, yêu sự nghiệp giáo dục Việt Nam Tô Ngọc Nữu. Trong thời kỳ đó, nước nhà đang đứng trước họa ngoại xâm, giới trí thức Việt đã xuất hiện những người thày mẫu mực về lòng yêu nước, về trí tuệ, về đạo đức, về kiến thức...
Ba người thầy đã được giới sĩ phu miền Bắc mệnh danh Tam sư Bắc xứ: cụ Đốc Nam Tô Ngọc Nữu, cụ Đốc Bắc Ngô Quang Huy, cụ Đốc Đông Tô Huân... Không chỉ là những đồng nghiệp kiệt xuất, những tấm gương sáng về đạo đức, về nghề nghiệp mà đó còn là những tình bạn thủy chung, son sắt. Khi vua Hàm nghi ban chiếu Cần Vương, những chí sĩ Bắc Hà đó đã bỏ bút nghiên trở thành những võ tướng anh hùng có tài thao lược. Với những đạo binh phụ tử, đoàn quân thầy trò do họ lập ra như "Tam tính quân", "Đại nghĩa Đoàn" đã lập nên những chiến công chấn động từ năm 1883-1892: Hạ thành Hải dương, tấn công đồn Bần Yên Nhân, nhiều trận phục kích quân Pháp ở đồn Ghênh, đồn Bần Yên Nhân, đồn Đống Mối (Nghĩa Lộ tổng Đại Từ, Văn Lâm), đánh chiếm Gia lâm trực tiếp uy hiếp quân Pháp ở thành Hà Nội, bắn chết thiếu tướng Pháp Louise Ney, diệt tên bang tá tỉnh Nguyễn hữu Hào, đuổi bắt Hoàng cao Khải...


Vận nước chưa đến, giặc thêm viện binh, vua Hàm nghi bị bắt, triều đình bội phản... giữa vòng vây trùng điệp của quân thù, người chỉ huy nghĩa quân - thầy giáo Ngô Quang Huy trước trận đánh cuối cùng đã gửi gắm người con gái thân thương độc nhất Ngô thị Lý cho người bạn tri kỉ cụ Tô Ngoc Nữu cố thoát hiểm với tâm sự:
"Sống làm sao? Chết làm sao? Cậy bạn vượt trùng vi đem con về nơi đất tổ giữ lấy dòng anh kiệt.
Thành thế nào? Bại thế nào? Sảng khoái diệt giặc nước. Hồn dẫu đi địa phủ vẫn trợ thiếu niên quân..." - Thần phả Ký.
Những tâm hồn lớn có những tình bạn lớn.


Tô Thành





Vĩnh biệt Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tài

Sunday, March 6, 2016

Vĩnh biệt anh Nguyễn Tài: Người chiến sĩ công an mẫu mực

Nguyễn Trọng Xuất

(CATP) Đồng chí Nguyễn Tài (Nguyễn Tài Đông), bí danh Tư Trọng, sinh ngày 11-12-1926, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước (nay là Thanh tra Chính phủ), nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội (Khóa VIII) đã từ trần hồi 4 giờ ngày 16-2-2016 (nhằm ngày 9 tháng Giêng năm Bính Thân).
Được tin anh mất, thật đột ngột, tuy biết rằng anh đã bước vào tuổi 90. Những kỷ niệm về những ngày được cùng công tác với anh ở đặc khu Sài Gòn - Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước bỗng ùa về, sống động như mới ngày nào.

Tôi từ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam về nhận nhiệm vụ ở đặc khu Sài Gòn - Gia Định năm 1965. Ban Tuyên huấn khu lúc đó bị thiệt hại khá nặng, một bộ phận lớn của lực lượng vũ trang tuyên truyền bị địch phát hiện và bị bắt gần hết.
Đồng chí Nguyễn Tài (thứ hai từ trái sang) trong lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Trong thời gian đang củng cố lại tổ chức nội thành của Ban Tuyên huấn, tôi nhận được tin nhắn của một nòng cốt trong nội thành: “Anh nên vào đứng chân trong nội thành để nắm lại lực lượng vũ trang tuyên truyền và chỉ đạo anh em. Như vậy mới khôi phục được đội ngũ. Anh em nhiệt tình còn nhiều nhưng thiếu chỉ huy thì khó vực dậy được phong trào. Trong này chỗ ăn ở an toàn cho anh, chúng tôi đã chuẩn bị xong cả”.

Tôi xin ý kiến anh Trần Bạch Đằng, lúc đó phụ trách chung. Anh Đằng cử anh Nguyễn Tài đến trực tiếp gặp tôi, trước khi quyết định. Anh Nguyễn Tài lúc đó là Ủy viên Thường vụ Thành ủy, phụ trách An ninh của T4 (mật danh của Khu Sài Gòn - Gia Định trong kháng chiến). Gặp anh, tôi trình bày thực trạng của cánh Tuyên huấn T4 sau vụ thiệt hại. Theo quán tính về nguyên tắc bí mật, tôi còn e ngại không thể nói hết cho người khác biết mọi thông tin về cơ sở nội thành.

Anh Nguyễn Tài chăm chú lắng nghe và hiểu những e ngại của tôi. Anh ôn tồn bảo: “Ngành An ninh của cách mạng được lập ra là để bảo vệ cách mạng, bảo vệ các đồng chí. Nếu không biết một số chi tiết cần thiết cho nghiệp vụ thì làm sao chúng tôi có được kế hoạch, tham mưu, giúp các đồng chí, giúp Đảng trong hoạt động cách mạng? Như vậy chúng tôi sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ”.
Tôi bị thuyết phục bởi cái lý và nhất là cái tình của anh Nguyễn Tài. Hai chúng tôi làm việc cả ngày. Cuối cùng anh Tài kết luận: “Đồng chí chưa nên vào nội thành theo đề nghị của cơ sở. Tôi cảm giác thấy có hiện tượng nội gián trong lực lượng của cánh Vũ trang tuyên truyền của Tuyên huấn T4, qua những chi tiết mà đồng chí cho tôi biết. Cần phân công, giao việc cho những nhánh còn tồn tại. Những nhánh bị bể cần dứt khoát cắt liên lạc, cho điều lắng một thời gian. Sau đó, dựa vào quần chúng lao động tại chỗ, đào tạo người mới, rà soát thật kỹ những lực lượng cũ còn lại, tuân thủ đúng nguyên tắc ngăn cách, bảo mật, rồi mới có thể từ từ giao việc...”.

Quả nhiên, nhờ kinh nghiệm của các anh bên An ninh, trực tiếp là anh Tư Trọng (bí danh của anh Nguyễn Tài), chúng tôi tránh được cái bẫy do địch giăng ra để đưa những cán bộ cách mạng chủ chốt vào lưới của chúng. Việc củng cố cánh Vũ trang tuyên truyền của Tuyên huấn T4 được tiến hành quy củ. Đến năm 1968, chúng tôi đã thực hiện được nhiều công tác quan trọng như: tổ chức cuộc vũ trang tuyên truyền quy mô lớn ngay tại chợ Bến Thành lúc Nguyễn Văn Thiệu đi thăm chợ; diệt được tên thượng sĩ nhất Trần Kim Thành phụ trách thám báo nguy hiểm của Sư đoàn Dù quân Sài Gòn có căn cứ ở sân bay Tân Sơn Nhất, phá kềm ở khu ngã tư Bảy Hiền, một địa bàn nằm ngay sát sân bay...

Lúc biết anh bị địch bắt (năm 1970), tôi vẫn vững tin vào phẩm chất của anh, dù trong lần làm việc với anh trước đó, anh đã được biết khá rõ nhiều cơ sở bí mật của cánh Tuyên huấn T4.

Sau khi anh bị bắt, cơ sở bí mật của Tuyên huấn T4 không hề bị tổn thất. Hoạt động của cánh Tuyên huấn T4 không hề bị lộ, vẫn tiếp tục phát triển và đã xây dựng được một số lõm chính trị tại Bảy Hiền, Gò Vấp, Khánh Hội, Bình Thới... Các lõm chính trị của cánh Tuyên huấn T4 tồn tại cho đến tháng 4-1975 và đã xuất sắc thực hiện nổi dậy vào đêm 29-4-1975 ở khu Bảy Hiền, trước khi đại quân tiến vào Dinh Độc Lập sáng 30-4-1975...

Kỷ niệm về anh Tư Trọng - Nguyễn Tài, chính là kỷ niệm sâu sắc về người chiến sĩ Công an nhân dân, An ninh nhân dân, đã thể hiện sự nối tiếp và phát huy tuyệt vời những giá trị tinh thần truyền thống dân tộc: đó là chủ nghĩa yêu nước, khí phách kiên cường bất khuất, đi cùng với bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp cách mạng, trong công tác cũng như khi đối mặt với địch, như những chuyện về cuộc chiến đấu sinh tử trong suốt bốn năm của anh với kẻ thù cực kỳ thâm hiểm. Được biết sau này, kể cả những oan khuất, anh kiên trì và dũng cảm chịu đựng khi trở lại phục vụ cách mạng.

Xin vĩnh biệt Anh Tư!

Xúc động tự đáy lòng tiễn Anh Tư với bài học quá tuyệt vời anh để lại cho chúng tôi, trong đó điểm cốt lõi là bài học về sự nối tiếp và phát triển những giá trị tinh thần truyền thống dân tộc mà qua anh đã trở thành “nét văn hóa của Công an nhân dân”.

Nguyễn Trọng Xuất



Theo Báo Công an TPHCM, Thứ Sáu, 19/02/2016.


 ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀






Anh hùng Nguyễn Tài: Trí tuệ, quả cảm và tài hoa


Biết ông Nguyễn Tài, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an tuổi cao, sức yếu, nhưng tin ông mất vẫn làm nhiều người bất ngờ.
“Đó là một người anh, người thầy, người thủ trưởng kính mến, người “anh hùng của những anh hùng” mà suốt đời chúng tôi noi gương” - Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị (Bộ Công an) chia sẻ trong nỗi xúc động cùng hồi ức về người thủ trưởng cũ.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Liên khu I của ta bị Pháp bao vây, cắt đứt giao liên với bên ngoài. Một số tuyến giao liên vào Liên khu I được tổ chức nhưng không thành công. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, ông Nguyễn Tài đã cử 2 chiến sĩ giao liên từ Tứ Liên theo bờ sông Hồng, qua gầm cầu Long Biên vào nội thành bắt liên lạc với Trung đoàn Thủ đô.

Vợ chồng Đại tá Nguyễn Tài chụp ảnh cùng 4 người con trước ngày ông lên đường đi B.

Sau đó, cũng theo con đường táo bạo này, giao liên đưa đồng chí Trần Quốc Hoàn, khi đó là Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, rồi đồng chí Lê Giản, Giám đốc Nha Công an Trung ương vào gặp mặt, động viên các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô. Ngày 17-2-1947, cũng chính con đường này đã đưa Trung đoàn Thủ đô thoát khỏi vòng vây của quân Pháp lên Việt Bắc.

Với sự thông minh, nhạy bén và bản lĩnh vững vàng, ông Nguyễn Tài đã được bổ nhiệm làm Trưởng Ty Công an Hà Nội khi mới ở tuổi 21. Năm 1950, 24 tuổi, ông đã là ủy viên Đặc khu ủy Hà Nội. Có thể thấy được sự xuất sắc của ông Nguyễn Tài từ năm tháng đó qua đánh giá của đồng chí Phạm Hùng (khi ấy là Phó Giám đốc Sở Công an Nam Bộ), tại một hội nghị ở Nha Công an Trung ương: “Ở Nam Bộ cũng có những anh em trẻ như Nguyễn Tài, nhưng tích lũy kinh nghiệm dày dặn như Tài thì rất hiếm!”.


Anh hùng Nguyễn Tài.

Năm 1950, địch lập vùng trắng ở Vân Đình (tỉnh Hà Đông cũ, nay thuộc Hà Nội) khiến phong trào cách mạng bị chững lại. Lực lượng Công an tìm mọi cách để vào nội thành hoạt động nhưng đều gặp khó khăn. Ông Nguyễn Tài đã trực tiếp vào nội thành, gặp gỡ đội ngũ cán bộ hoạt động trong đó để nắm tình hình, nhằm đưa ra các chủ trương phù hợp. Thời điểm đó, địch cho nhiều chỉ điểm ngày ngày rà soát, bắt bớ cán bộ ta.

Nhiều cán bộ nòng cốt như đồng chí Minh Việt, Minh Đông, Lê Nghĩa, Ngọc Nhuôm… đã bị bắt, nhưng với sự mưu trí, ứng phó rất giỏi, ông Nguyễn Tài vẫn bình an vô sự, thậm chí, còn tiếp tục xây dựng được nhiều cơ sở cao cấp, lấy được nhiều tài liệu có giá trị. Mãi đầu năm 1953 ông mới ra ngoại thành và đưa ra chủ trương hoạt động mới: “Tích trữ lực lượng, chờ đón thời cơ”.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh bảo rằng nhờ “8 chữ vàng” ấy mà đỡ được bao xương máu anh em. Nhưng để có 8 chữ ấy, là gần 3 năm lăn lộn giữa lòng địch trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc của ông Nguyễn Tài. “Bởi thế, ông là thần tượng, là bậc thầy của chúng tôi về trí tuệ, về lòng dũng cảm trước kẻ thù”.

Khi là Cục trưởng Cục Bảo vệ Chính trị (Bộ Công an), những bài giảng của ông ở trường An ninh đã góp phần quan trọng tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ về chất của lực lượng bảo vệ chính trị toàn miền Bắc. Nhiều thế hệ cán bộ Công an đã trưởng thành từ sự đào tạo của ông.

Trong kháng chiến chống Mỹ, khi nhiều toán biệt kích gián điệp Sài Gòn được tung ra miền Bắc, ông Nguyễn Tài đã chỉ đạo các tỉnh phát động phong trào toàn dân chống gián điệp biệt kích, đồng thời, trực tiếp chỉ huy lực lượng Công an tiến hành “trò chơi nghiệp vụ”. Từ năm 1960 đến 1970, bằng “trò chơi nghiệp vụ”, lực lượng CAND đã bắt, vô hiệu hóa hàng trăm tên biệt kích, thu hàng ngàn tấn vũ khí, điện đài, tiền giả...

Trước tình hình miền Nam có nhiều biến động, năm 1964, ông Nguyễn Tài đã xung phong vào chiến trường. Bị amidan, biết vào đó phải ở hầm bí mật nhiều, dễ bị ho, có thể xảy ra điều không hay cho đồng đội, ông phải đi cắt trước ngày lên đường.

Trong Nam, với cương vị Trưởng ban An ninh Sài Gòn - Gia Định, ông trực tiếp xông pha cùng anh em, chủ động đưa ra chỉ đạo sát hợp. Tháng 12-1970, ông bị địch bắt trên đường đi công tác và suốt hơn 4 năm bị tù đày, tra tấn trong nhà tù biệt giam của Mỹ ngụy, ông vẫn giữ vững khí phách người Công an cách mạng. Được đồng đội giải thoát trong ngày đại thắng, ông được tin cậy giao nhiệm vụ trợ lý Bộ trưởng rồi Thứ trưởng Bộ Công an.

Con người xuất sắc ấy bất ngờ bị hàm oan, bị đình chỉ công tác để thẩm tra về thời gian bị địch bắt, chỉ bởi một sự tắc trách trong qui trình nhận tài liệu. Với ông, đó là thời gian vô cùng khủng khiếp. Nhưng với bản lĩnh kiên cường, tâm sáng, ông luôn tin tưởng vào sự công minh, bình tĩnh, kiên quyết đấu tranh có nguyên tắc trong nội bộ và rồi, sự thật đã được sáng tỏ. Ngày 23-12-1988, văn bản 570 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã khẳng định: “Đồng chí Nguyễn Tài đã có tinh thần chịu đựng sự tra tấn dã man của địch, khôn khéo đối phó với địch, bảo vệ cơ sở và những bí mật của Đảng mà mình biết”.

Đồng chí Nguyễn Tài (thứ hai từ trái sang) trong lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

Chính Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã viết thư đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho ông: “Quá trình hoạt động cũng như quá trình đấu tranh kiên trung, mưu trí khi bị địch bắt trong thời kì kháng chiến chống Mỹ của đồng chí Nguyễn Tài cho thấy, đồng chí xứng đáng là một anh hùng. Sau giải phóng, đồng chí Tài đã kiên trì thẳng thắn đấu tranh có nguyên tắc để bảo vệ mình trước những nghi vấn về thời gian bị địch bắt giam cầm và đã được các cơ quan chức năng của Đảng kết luận. Việc đó càng làm sáng tỏ hơn phẩm chất anh hùng của đồng chí”.

Gương mẫu trong cuộc sống, trong công tác, ông Nguyễn Tài luôn được đồng nghiệp yêu mến và kính trọng. Bà Lê Thị Xuân Uyên, vợ nhạc sĩ Xuân Oanh, Đội trưởng Đội nữ điệp báo đầu tiên của Công an Hà Nội từng nhận xét: “Ông Nguyễn Tài là một nhân vật lịch sử, trải qua tất cả những hạnh phúc và đau đớn của nghề. Chính lòng tin vào lý tưởng cách mạng đã giúp ông vượt qua những khoảnh khắc hiểm nghèo nhất. Ông là người quy tụ các phẩm chất trí tuệ, quả cảm, trung thành, tài hoa, một trong những cá nhân xuất sắc của lực lượng Công an”.

Anh hùng Nguyễn Tài, tên khai sinh là Nguyễn Tài Đông, sinh ngày 11-12-1926, quê ở làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Ông là con thứ hai của nhà văn Nguyễn Công Hoan và cháu ruột đồng chí Lê Văn Lương, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy TP Hà Nội.

Ông tham gia cách mạng rất sớm và đầu năm 1945 đã có mặt trong trường Quân chính kháng Nhật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ông nguyên là Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị, Thứ trưởng Bộ Công an, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan.

Ông đã được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Hồ Chí Minh và Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.
Anh hùng Nguyễn Tài mất vào 4h ngày 16-2-2016, tức ngày 9 tháng Giêng năm Bính Thân tại Bệnh viện 198-Bộ Công an, hưởng thọ 91 tuổi.

Lễ viếng Anh hùng Nguyễn Tài sẽ diễn ra từ 7h30 đến 11h ngày 23-2-2016 tại Nhà tang lễ Quốc gia, 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ truy điệu bắt đầu từ 11h cùng ngày.

Tang lễ của Anh hùng Nguyễn Tài được tổ chức theo nghi thức cấp cao, do Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Bộ Công an, Tổng cục Hải Quan và Thanh tra Chính phủ cùng gia đình phối hợp tổ chức.

Thanh Hằng


 ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀






Lễ tang cấp cao đồng chí Nguyễn Tài được tổ chức trang trọng

(CAO) Sáng ngày 23-2-2016, Lễ tang cấp cao đồng chí Nguyễn Tài được tổ chức trang trọng tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.
Lễ tang cấp cao đồng chí Nguyễn Tài đã được Bộ Công an, Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài chính, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, chính quyền địa phương và gia đình tổ chức trang trọng tại Nhà tang lễ Quốc gia, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.

Lễ viếng đồng chí Nguyễn Tài đã được cử hành trang nghiêm, xúc động. Các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước; các đoàn đại biểu của các Bộ, Ngành ở Trung ương và địa phương... đã đến viếng, gửi vòng hoa, điện chia buồn và tiễn đưa đồng chí Nguyễn Tài về nơi an nghỉ cuối cùng.

Đảng ủy, Ban Giám đốc Công an TP.HCM dâng hoa viếng đồng chí Nguyễn Tài.

Trung tướng Lê Đông Phong, Giám đốc Công an TP.HCM và các đồng chí trong Đảng ủy Công an TP.HCM viếng đồng chí Nguyễn Tài.
Sáng cùng ngày, Đảng ủy, Ban Giám đốc Công an TP.HCM có Trung tướng Lê Đông Phong và các đồng chí trong Đảng ủy Công an TP.HCM, lãnh đạo Công an TP.HCM đã đến tham dự Lễ viếng đồng chí Nguyễn Tài.

Đồng chí Nguyễn Tài (tức Tư Trọng), tên thật là Nguyễn Tài Đông (SN 1926, quê quán thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).

Đồng chí Nguyễn Tài là cán bộ lão thành cách mạng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; nguyên: Chính trị viên Trung đội giải phóng quân ở chiến khu Tân Trào trước Cách mạng Tháng Tám; Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội, Ủy viên đặc khu ủy kiêm Giám đốc Công an Hà Nội thời kháng chiến chống thực dân Pháp; Ủy viên Ban chỉ đạo tiếp quản khu 300 ngày và TP Hải Phòng, tham gia Thành ủy tiếp quản TP Hải Phòng; Khu ủy viên Khu Sài Gòn – Gia Định, kiêm Trưởng ban An ninh T4 trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ; Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an); Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước, Tổng cục trưởng Hải quan Việt Nam trực thuộc Chính phủ (nay thuộc Bộ Tài chính); Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, khóa VIII...

Trung tướng Lê Đông Phong thắp nén hương tưởng nhớ đồng chí Nguyễn Tài.

Trong quá trình công tác, đồng chí Nguyễn Tài đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng...

Sau một thời gian lâm bệnh nặng, dù đã được các bác sỹ tận tình cứu chữa nhưng vì tuổi cao sức yếu, đồng chí đã từ trần hồi 4 giờ ngày 16-2-2016 tại Bệnh viện 19-8, Bộ Công an, hưởng thọ 91 tuổi.

Cùng ngày, Lễ truy điệu và đưa tang đồng chí Nguyễn Tài đã được cử hành trọng thể.


Đoàn Tuấn


 ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀


--------------
Nguồn: Báo Công an TPHCM - 23/02/2016






Vĩnh biệt Tổng cục trưởng đầu tiên của ngành Hải quan

(HQ Online)- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tài (Nguyễn Tài Đông), bí danh Tư Trọng, sinh ngày 11-12-1926, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước (nay là Thanh tra Chính phủ), nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan (từ năm 1985 đến 1989), nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội (khóa VIII), đã từ trần hồi 4 giờ ngày 16-2-2016 (ngày 9 tháng Giêng năm Bính Thân). Những đóng góp, hy sinh của ông cho cách mạng cũng như xây dựng và phát triển ngành Hải quan những năm 80 của thế kỷ trước được CBCC Hải quan ghi nhớ mãi.

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tài.
Ảnh: Tư liệu

Sinh thời, ông Nguyễn Tài là một người thông minh hoạt bát, con nhà dòng dõi. Cha ông là nhà văn nổi tiếng Nguyễn Công Hoan. Ông Nguyễn Tài tham gia cách mạng từ năm 1944, lúc mới 18 tuổi. Ở tuổi 21, ông đã được bổ nhiệm làm Trưởng ty Công an Hà Nội. 10 năm sau là Cục trưởng Cục Bảo vệ Chính trị (Bộ Công an). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông tình nguyện đi chiến trường miền Nam, rồi bị địch bắt vào dịp tết năm 1970. Mặt đối mặt với các nhân viên của CIA, suốt 4 năm, 4 tháng, 10 ngày trong nhà tù của Mỹ - Ngụy, ông đã giữ được khí phách kiên trung của người chiến sỹ Công an cách mạng.

Mùa xuân năm 1975, khi Sài Gòn được giải phóng, ông được bộ đội ta giải thoát. Sau cảnh lao tù, ông trở lại với công việc của mình với cương vị Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban An ninh thành phố Hồ Chí Minh vừa mới được giải phóng. Sau đó ít lâu, ông được bổ nhiệm giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an).

Những năm đầu thập niên 80, hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới có biểu hiện phức tạp và phổ biến. Trên cơ sở tổ chức Cục Hải quan Trung ương thuộc Bộ Ngoại Thương (nay là Bộ Công Thương), ngày 30-8-1984 Hội đồng Nhà nước phê chuẩn Nghị quyết số 547/NQ/HĐNN7 thành lập Tổng cục Hải quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Việc thành lập Tổng cục Hải quan vào thời điểm này là nhằm nâng cao vai trò, chức năng của ngành, tạo điều kiện thuận lợi để ngành có thể giúp Chính phủ quản lý công tác hải quan có hiệu quả nhất. Sự kiện này đánh dấu một bước chuyển mới trên đường xây dựng và phát triển của Hải quan Việt Nam. Vốn là người có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo trong ngành Công an, năm 1985, ông được Đảng và Nhà nước giao trọng trách giữ cương vị Tổng cục trưởngTổng cục Hải quan đầu tiên.

Nhận nhiệm vụ mới, vị Tổng cục trưởng đầu tiên ý thức được trách nhiệm của mình và bắt tay ngay vào xây dựng kế hoạch phát triển ngành Hải quan, đặc biệt là trang bị kỹ thuật, phương tiện làm việc và tăng cường pháp chế, triển khai hệ thống tổ chức Hải quan toàn ngành thống nhất, chính quy. Thời kỳ đó, kỷ cương trong hoạt động XNK lỏng lẻo, hoạt động sản xuất trong nước còn eo hẹp và khó khăn, tình hình buôn lậu rất phức tạp, vì vậy vai trò của ngành Hải quan được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đồng chí Phạm Hùng (lúc đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) có lưu ý: Hải quan môi trường hoạt động thường xuyên tiếp xúc với hàng và tiền, dễ bị mua chuộc nên cần phải quan tâm xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh. Phải làm gì và làm như thế nào? Câu hỏi luôn nung nấu trong suy nghĩ của người lãnh đạo Ngành như một thói quen của một cán bộ an ninh nhiều năm hoạt động cách mạng. Ngay trong năm đầu tiên giữ cương vị lãnh đạo, Tổng cục trưởng Nguyễn Tài đã đi thực tế tại khắp các đơn vị Hải quan để tìm hiểu về lĩnh vực có nhiều phức tạp này. Không ít lần qua những chuyến “vi hành” đột xuất tại cửa khẩu mà không báo trước cho các Cục Hải quan tỉnh, ông đã có thêm thông tin thực tế ở cơ sở cũng như nắm bắt được cán bộ lãnh đạo cấp cục có sâu sát hay không. Từ đó ông có những chỉ đạo trong chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật trong CBCC.

Sự nghiêm túc, sâu sát, tường tận cơ sở ở vị Tổng cục trưởng đầu tiên này có lẽ còn bởi những phát hiện của ông về điều kiện làm việc của một số đơn vị hải quan sau những chuyến đi thực tế. Với trách nhiệm của mình, Tổng cục trưởng Nguyễn Tài đã cùng với các cơ quan có liên quan như Giao thông vận tải, Cảng vụ, cơ quan dịch vụ bàn bạc giải quyết từng bước về trụ sở làm việc, nhà ở cho cán bộ Hải quan. Cũng từ đây, những ý tưởng về trang bị máy móc phục vụ công tác nghiệp vụ hải quan đã bắt đầu xuất hiện trong ông.

Ông đã nhanh chóng triển khai hệ thống tổ chức Hải quan trong toàn ngành, áp dụng quy trình hoạt động thống nhất và hợp lý để từng bước chính quy hóa. Vào thời kỳ đó, ông và lãnh đạo Tổng cục Hải quan đã tranh thủ sự giúp đỡ của Hải quan các nước xã hội chủ nghĩa để đào tạo cán bộ và trang bị kỹ thuật cho Hải quan Việt Nam trong khi nguồn ngân sách còn hạn chế.


Năm 2005, vào dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Hải quan Việt Nam, cán bộ, phóng viên Báo Hải quan đã được vinh dự nhiều lần gặp gỡ nguyên Tổng cục trưởng Nguyễn Tài. Qua trò chuyện, tiếp xúc chúng tôi đều cảm nhận được sự tâm huyết, trách nhiệm của ông trong giai đoạn ông là Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan. Khi Tổng cục Hải quan được thành lập với vai trò, vị trí được nâng cao hơn, đồng chí Phạm Hùng có thông báo nhiệm vụ mới với ông Nguyễn Tài và dặn dò là cần phải đề ra các biện pháp quản lý hải quan để thiết lập lại trật tự hoạt động XNK vừa đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế, song cũng phải đảm bảo trật tự an ninh quốc gia.

Khi chúng tôi hỏi điều gì được ông quan tâm chú trọng nhất trong công tác chỉ đạo điều hành Tổng cục Hải quan thời kỳ đó, ông Nguyễn Tài cho rằng đó là cần phải xây dựng được đội ngũ cán bộ chiến sỹ vững về chuyên môn, trong sáng về đạo đức phẩm chất. Trong câu chuyện của ông, vấn đề xây dựng lực lượng thường được ông nhắc đi nhắc lại. Thời kỳ đầu thành lập thiếu cán bộ, lãnh đạo Tổng cục Hải quan chủ trương tuyển dụng một số cán bộ từ ngành Công an, Quân đội chuyển sang. Có số lượng, Tổng cục Hải quan bắt đầu rà soát trình độ, tổ chức đào tạo, tập huấn cho anh em các quy chế quy trình nghiệp vụ hải quan. Hồi đó, các quy định quy chế về hải quan chưa hình thành cụ thể và hệ thống. Ông cùng với lãnh đạo Tổng cục và cán bộ chủ chốt các đơn vị lao vào xây dựng quy trình công tác hải quan. Trong câu chuyện về những ngày làm Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, ông Nguyễn Tài có nhắc đến những lần Hải quan bị phàn nàn từ một số hành khách, doanh nghiệp. Là một người quản lý chặt chẽ và sâu sát, ông tìm hiểu lại ngọn nguồn và không phải tất cả các trường hợp cán bộ hải quan đều làm sai mà lỗi lại bắt đầu từ đối tượng làm thủ tục XNK, XNC. Giờ đây, với hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể, việc đối thoại trao đổi giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp được thường xuyên, nên có thuận lợi hơn so với thời kỳ trước, những hiểu lầm va chạm đó đã được hạn chế rất nhiều. Nhớ lại thời kỳ đó, nguyên Tổng cục trưởng Nguyễn Tài vui mừng trước sự phát triển ngành Hải quan ngày hôm nay, trong đó hướng đi hiện đại hóa và trang bị máy móc phục vụ công tác nghiệp vụ được ông rất tán thành. Đó là ước mơ của lớp cán bộ hải quan của phương pháp làm việc thủ công 30 năm về trước.

Thật khó kể hết về cuộc đời đã cống hiến trọn vẹn cho cách mạng của đồng chí Nguyễn Tài. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng, khi đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Tài, đã nhận xét: “… Quá trình hoạt động cũng như quá trình đấu tranh kiên trung, mưu trí khi bị địch bắt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của đồng chí Tài cho thấy đồng chí thực sự xứng đáng là một Anh hùng. Sau giải phóng, đồng chí Tài đã kiên trì, thẳng thắn đấu tranh có nguyên tắc để bảo vệ mình trước những nghi vấn về thời gian bị địch bắt giam cầm và đã được các cơ quan chức năng của Đảng kết luận. Việc đó càng làm sáng tỏ hơn phẩm chất anh hùng của đồng chí”.

Không chỉ xuất sắc, tài ba trong công việc, đồng chí còn là một con người đầy lòng nhân ái, vị tha, luôn giữ cho mình cuộc sống thanh bạch, liêm khiết, không có bất kỳ một sự cám dỗ nào có thể làm vẩn đục tâm hồn trong sáng của đồng chí.

Cán bộ công chức Hải quan các thế hệ xin kính cẩn nghiêng mình và vĩnh biệt người Tổng cục trưởng đầu tiên của ngành Hải quan!

Hơn 70 năm hoạt động cách mạng, với những đóng góp to lớn, đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đồng chí Nguyễn Tài đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý:
- Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng
- Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân thời chống Mỹ
- Huân chương Hồ Chí Minh
- Huân chương Quân công hạng Nhất
- Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất và hạng Nhì
- Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất
- Huân chương Giải phóng hạng nhì
- Huy chương Vì An ninh Tổ quốc
- Huy chương Vì sự nghiệp Thanh tra
- Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa
- Huy chương Vì sự nghiệp Hải quan.
- Kỷ niệm chương Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu
- Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày
- Kỷ niệm chương của TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh.
- Và nhiều huy hiệu, danh hiệu khác.

Báo Hải quan


 ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀


--------------
Nguồn: Báo Hải Quan - 19/02/2016






Bài 1: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tài - Vị tổng cục trưởng đầu tiên của Tổng cục Hải quan

(HQ Online)- Đồng chí Nguyễn Tài, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan đầu tiên đã từ trần lúc 4h00 ngày 16-2-2016 (nhằm ngày 9 tháng Giêng năm Bính Thân), hưởng thọ 91 tuổi. Báo Hải quan trân trọng đăng lại 2 bài báo viết về ông đã đăng trên Báo Hải quan phát hành tháng 9-2005, nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Hải quan Việt Nam.
Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Tài phát biểu chỉ đạo hội nghị tổng kết ngành Hải quan (năm 1988).

Trong trí nhớ của những cán bộ chiến sỹ hải quan thời kỳ giữa những năm 1980, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Tài là người lãnh đạo cương nghị, nghiêm khắc và sâu sát trong điều hành, chỉ đạo.

Vốn là người có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo trong ngành Công an, ông được Đảng và Nhà nước giao trọng trách giữ cương vị Tổng cục trưởng khi Tổng cục Hải quan mới được thành lập trực thuộc Chính phủ (trên cơ sở Cục Hải quan Trung ương thuộc Bộ Ngoại thương). Lần giở lại những tấm ảnh kỷ niệm 20 năm về trước, ông kể:

Khi Tổng cục Hải quan được thành lập với vai trò, vị trí được nâng cao hơn, đồng chí Phạm Hùng, lúc đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có thông báo nhiệm vụ mới của tôi và dặn dò là cần phải đề ra các biện pháp quản lý hải quan để thiết lập lại trật tự hoạt động XNK để vừa đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế, song cũng phải đảm bảo trật tự an ninh quốc gia.

Nhận nhiệm vụ mới, vị Tổng cục trưởng đầu tiên ý thức được trách nhiệm của mình và bắt tay ngay vào xây dựng kế hoạch phát triển ngành Hải quan. Thời kỳ đó, kỷ cương trong hoạt động XNK lỏng lẻo, hoạt động sản xuất trong nước còn eo hẹp và khó khăn, tình hình buôn lậu rất phức tạp, vì vậy vai trò của ngành Hải quan được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm chú trọng. Phải làm gì và làm như thế nào? Câu hỏi luôn nung nấu trong suy nghĩ của người lãnh đạo ngành như một thói quen của một cán bộ an ninh nhiều năm hoạt động cách mạng. Đồng chí Phạm Hùng lúc đó có lưu ý: Công an đấu tranh địch ta rõ ràng, còn có người bị hư hỏng. Hải quan môi trường hoạt động tiếp xúc thường xuyên với hàng và tiền, dễ bị mua chuộc nên cần phải quan tâm xây dựng lực lượng trong sạch vững mạnh.

Chẳng thế mà khi tôi hỏi điều gì được ông quan tâm chú trọng nhất trong công tác chỉ đạo điều hành Tổng cục Hải quan thời kỳ đó, ông Nguyễn Tài cho rằng đó là cần phải xây dựng được đội ngũ cán bộ chiến sỹ vững về chuyên môn, trong sáng về đạo đức phẩm chất. Trong câu chuyện của ông, vấn đề xây dựng lực lượng thường được ông nhắc đi nhắc lại.

Thời kỳ đầu thành lập thiếu cán bộ, lãnh đạo Tổng cục Hải quan chủ trương tuyển dụng một số cán bộ từ ngành Công an, Quân đội chuyển sang. Có số lượng, Tổng cục Hải quan bắt đầu rà soát trình độ, tổ chức đào tạo, tập huấn cho anh em các quy chế quy trình nghiệp vụ hải quan. Hồi đó, các quy định quy chế về hải quan chưa hình thành cụ thể và hệ thống. Ông cùng với lãnh đạo Tổng cục và cán bộ chủ chốt các đơn vị lao vào xây dựng quy trình công tác hải quan. Tại phòng họp tầng 3 ngôi nhà 159 Bà Triệu - Hà Nội lúc bấy giờ là trụ sở của Tổng cục Hải quan, Tổng cục trưởng Nguyễn Tài và lãnh đạo Tổng cục Hải quan đã điều hành nhiều cuộc họp quan trọng với cán bộ hải quan lâu năm ở các Hải quan địa phương để xây dựng, bàn thảo thống nhất quy trình quy chế công tác cũng như bố trí lực lượng đối với các loại hình cửa khẩu. Sau khi thống nhất ý kiến thì phân công soạn thành văn bản để hướng dẫn thi hành. Thời kỳ đó, bắt đầu thành lập Trường Nghiệp vụ Hải quan, ông Nguyễn Tài chủ trương tất cả các cán bộ lãnh đạo hải quan địa phương dù đã lâu năm đều phải về trường để học. Bởi ông lập luận: Người lãnh đạo mà thua kém trình độ nhân viên cấp dưới (được đào tạo bài bản, có hệ thống) thì không thể lãnh đạo tốt được. Ngoài ra ở các cơ quan đều tổ chức tập huấn tại chỗ những phần chính yếu về các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan.

Sau một thời gian, tuy vẫn còn ở mức độ đơn giản, ngành Hải quan đã ban hành các quy định, quy trình nghiệp vụ để thực hiện đối với từng loại hình xuất nhập khẩu ở sân bay, cảng biển, cửa khẩu đường bộ, bưu điện... Với những quy định đó, hoạt động XNK dần dần được thiết lập lại, quản lý chặt chẽ hơn, tăng cường chống buôn lậu qua biên giới, góp phần bảo vệ an ninh kinh tế đất nước. Giờ đây, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến thủ tục hải quan ngày càng được xây dựng cụ thể, rõ ràng, phong phú và được hệ thống hơn, song có thể nói những quy định thời kỳ đầu thành lập Tổng cục Hải quan là cơ sở quan trọng, bắt đầu cho quá trình tiến tới ngành Hải quan thống nhất, chính quy sau này.

Trong công tác xây dựng lực lượng, vấn đề giáo dục phẩm chất đạo đức, chống tiêu cực trong cán bộ được lãnh đạo Tổng cục Hải quan và Tổng cục trưởng Nguyễn Tài đặt lên hàng đầu.

Vậy chống bằng cách nào? - Tôi hỏi.

Ông nói: Muốn chống tiêu cực được trước hết phải có nhân tố tích cực, lấy tích cực để đấu tranh đẩy lùi và xoá bỏ tiêu cực. Để chỉ đạo hoạt động trong ngành và chống tiêu cực có hiệu quả, phải thường xuyên kiểm tra và có mạng lưới kiểm tra việc thực hiện công việc của các cấp.

Quả thật, nhiều cán bộ hải quan thời đó còn nhớ một vị Tổng cục trưởng sâu sát với hoạt động Hải quan địa phương. Ngay trong năm đầu tiên giữ cương vị lãnh đạo, ông Nguyễn Tài đã đi thực tế tại khắp các đơn vị Hải quan để tìm hiểu về lĩnh vực có nhiều phức tạp này. Không ít lần qua những chuyến “vi hành” đột xuất tại cửa khẩu mà không báo trước cho các cục hải quan tỉnh, ông đã có thêm thông tin về cơ sở cũng như nắm bắt được cán bộ cấp cục có sâu sát hay không. Có lần ông kiểm tra đột xuất tại hải quan một cửa khẩu, đã phát hiện một nhân viên hải quan móc nối tiêu cực với doanh nghiệp, sau đó ông đã kịp thời chấn chỉnh lãnh đạo đơn vị và nhân viên đó.

Nghe ông kể về quá trình xây dựng lực lượng, giáo dục phẩm chất đạo đức, chống tiêu cực trong đội ngũ cán bộ hải quan, tôi hiểu rằng, những băn khoăn trăn trở của ông không chỉ có ý nghĩa trong thời kỳ đó mà càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình cải cách phát triển ngành Hải quan hiện nay.

Sự nghiêm túc sâu sát tường tận cơ sở ở người Tổng cục trưởng đầu tiên này có lẽ còn bởi những phát hiện của ông về điều kiện làm việc của một số đơn vị hải quan sau những chuyến đi thực tế. Mới được thành lập với chức năng nhiệm vụ và tổ chức được mở rộng, nhà làm việc ở nhiều cửa khẩu đường bộ còn lúi xùi, khó khăn cho thao tác nghiệp vụ, ảnh hưởng đến vị thế của cán bộ Hải quan. Với trách nhiệm của mình, Tổng cục trưởng Nguyễn Tài đã cùng với các cơ quan có liên quan như giao thông vận tải, cảng vụ, cơ quan dịch vụ bàn bạc giải quyết từng bước về trụ sở làm việc, nhà ở cho cán bộ hải quan. Cũng từ đây, những ý tưởng về trang bị máy móc phục vụ công tác nghiệp vụ hải quan đã bắt đầu xuất hiện trong ông.

Ông kể cho tôi nghe chuyến đi tham quan tại Hải quan Cuba nhân Hội nghị Hải quan các nước XHCN vào năm 1985, chuyến thăm Hải quan CHDC Đức năm 1987. Đoàn lãnh đạo Tổng cục Hải quan lúc đó được tận mắt chứng kiến hải quan nước bạn sử dụng máy X-quang để kiểm tra hàng hóa XNK, máy vi tính, chó nghiệp vụ... Bức xúc trước cách làm thủ công của Hải quan Việt Nam, ông cùng với lãnh đạo Tổng cục Hải quan bàn bạc và đề nghị Tổng cục trưởng Hải quan Cuba giúp trang bị cho Hải quan Việt Nam 1 chiếc máy soi X-quang đặt ở Hải quan Bưu điện Hà Nội kiểm tra hàng hóa, bưu phẩm bưu kiện XNK. Sau đó, ông đề nghị Hội đồng Bộ trưởng cho phép TCHQ dùng số ngoại tệ thu được từ công tác chống buôn lậu để trang bị máy soi cho các cửa khẩu cần thiết, trong đó có sân bay Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng. Lúc đó việc nghiên cứu khả năng áp dụng máy vi tính trong ngành Hải quan cũng được đặt ra để việc thống kê được chính xác, cập nhật, song vài năm sau ý tưởng đó mới tiếp tục được triển khai thực hiện.

Là lĩnh vực tương đối phức tạp có liên quan đến nhiều đối tượng, từ doanh nghiệp, hành khách trong nước và nước ngoài, nên công tác quản lý hải quan được thắt chặt so với thời kỳ trước đây ắt không tránh khỏi những va chạm, hiểu lầm. Trong câu chuyện về những ngày làm Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, ông Nguyễn Tài có nhắc đến những lần Hải quan bị phàn nàn từ một số hành khách, doanh nghiệp. Là một người quản lý chặt chẽ và sâu sát, ông tìm hiểu lại ngọn nguồn và không phải tất cả các trường hợp cán bộ hải quan đều làm sai mà lỗi lại bắt đầu từ đối tượng làm thủ tục XNK, XNC.

Giờ đây, với hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể, việc đối thoại trao đổi giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp được thường xuyên, nên có thuận lợi hơn so với thời kỳ trước, những hiểu lầm va chạm đó đã được hạn chế rất nhiều. Nhớ lại thời kỳ đó, nguyên Tổng cục trưởng Nguyễn Tài vui mừng trước sự phát triển ngành Hải quan ngày hôm nay, trong đó hướng đi hiện đại hóa và trang bị máy móc phục vụ công tác nghiệp vụ được ông rất tán thành. Đó là ước mơ của lớp cán bộ hải quan của phương pháp làm việc thủ công 20 năm về trước.

Năm nay ngành Hải quan tròn 60 tuổi. Như nhiều cán bộ Hải quan lão thành khác, ông Nguyễn Tài tích cực tham gia các cuộc họp thảo luận đóng góp kinh nghiệm vào quá trình phát triển ngành, tham gia xây dựng cuốn lịch sử 60 năm Hải quan Việt Nam. Giờ đây dù đã ở tuổi 80, song ông vẫn thường quan tâm, theo dõi từng bước phát triển của ngành. Gặp ông, tôi thấy trên gương mặt ông rạng rỡ niềm vui. Có lẽ bởi từ những ý tưởng của ông và lãnh đạo Tổng cục Hải quan thời kỳ đó mà giờ đây nhiều thế hệ lãnh đạo ngành đã tiếp tục vun đắp, gây dựng ngành Hải quan ngày càng chính quy, hiện đại.



Ánh Hồng


 ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀


--------------
Nguồn: Báo Hải Quan - 22/02/2016






Bài 2: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tài- Sắt son một đời cách mạng

(HQ Online)- Đồng chí Nguyễn Tài, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan đầu tiên đã từ trần lúc 4h00 ngày 16-2-2016 (nhằm ngày 9 tháng Giêng năm Bính Thân), hưởng thọ 91 tuổi. Báo Hải quan trân trọng đăng lại 2 bài báo viết về ông đã đăng trên Báo Hải quan phát hành tháng 9-2005, nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Hải quan Việt Nam.

Đoàn cán bộ TCHQ chúc mừng đ/c Nguyễn Tài trong ngày đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực
lượng Vũ trang nhân dân (10-6-2002)

Trong cái dịu ngọt của tiết trời Hà Nội một sáng đầu thu, tôi tìm đến nhà riêng của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tài tại khu tập thể Trung Tự. Sau 3 hồi chuông, cánh cổng sắt dần mở rộng, nhà cách mạng lão thành ra đón tôi.

Ở cái tuổi 80, ông không còn rảo những bước chân nhanh nhẹn như vài năm trước đây tôi có dịp gặp ông khi ông tới thăm một số đơn vị hải quan ở các cửa khẩu miền Trung. Nhưng ở con người ông, vẫn toát lên vẻ cương nghị và tràn đầy chí khí của một nhà cách mạng.

Với lực lượng Công an nhân dân, ông được xếp vào lớp “anh cả” đã gắn bó với quá trình chiến đấu và trưởng thành của ngành. Với ngành Hải quan ông là vị Tổng cục trưởng đầu tiên và đã có những đóng góp cho sự phát triển của ngành hôm nay. Với những người đồng đội, đồng chí thân yêu, ông được nhắc tới với một loạt cái tên đã gắn liền với quá trình hoạt động của Ban an ninh T4 như Tư Trọng, Ba Sáng, Tư Duy.

Sau cái bắt tay thật chặt, tôi ngồi xuống ghế cùng ông. Tôi nhìn quanh, không khí thật tĩnh lặng, như cuộc sống vốn có của hai vợ chồng già, những người gần trọn đời mình cho cách mạng, đã chịu đựng biết bao gian khổ và xa cách. Ông mời tôi uống nước, rồi không khí của những ngày đầu tham gia cách mạng, những ngày ở chiến khu Tân Trào, rồi hoạt động trong nội thành khi giặc Pháp chiếm đóng, sôi nổi hoạt động trong Ban an ninh T4 (Khu Sài Gòn-Gia Định) cho tới khi bị địch bắt cho đến khi được bộ đội ta giải thoát khỏi trại tù số 3 Bạch Đằng-Sài Gòn..., tất cả như ùa về trong ông.

-Được sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, chắc hẳn điều này đã sớm đưa ông đến với cách mạng? Tôi hỏi.

Ông chậm rãi nói: Hai người chú của tôi tham gia cách mạng và đều bị địch bắt giam tại nhà tù Sơn La và Côn Đảo, anh trai tôi cũng sớm tiếp bước truyền thống đó (năm 1947 anh tôi đã hy sinh khi đi làm nhiệm vụ). Chính vì thế, năm 1944, lúc tôi 19 tuổi, tôi đã lên Hà Nội theo học ban tú tài ở trường Tư thục Văn Lang và được giới thiệu vào Đoàn Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu. Những ngày tháng đó, hoạt động cùng anh Lê Quân (Nguyễn Diệp Cầu), Lê Tự (Dương Tự Quán)..., chúng tôi tham gia đi rải truyền đơn, dán áp phích, đi tuyên truyền về cách mạng. Tháng 3-1945 tôi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Theo sự phân công, tôi đã lên chiến khu Tân Trào và theo học trường Quân chính kháng Nhật khóa I. Ở chiến khu, tôi đã có vinh dự gặp Bác Hồ và anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Sau Cách mạng tháng Tám thành công, tôi là cán bộ Sở Công an Bắc bộ. Đây là mốc quan trọng mở đầu cho quá trình hoạt động trong ngành Công an của tôi.

Tiếp mạch suy nghĩ của mình, ông nói tiếp:

Tháng 9-1945, quân Pháp đã đánh chiếm Nam bộ và lại có mặt ở Hà Nội. Kháng chiến toàn quốc nổ ra. Tôi công tác ở Công an khi XI (Đặc khu Hà Nội) từ đầu kháng chiến đến tháng 9-1947, tôi được chỉ định tham gia Thường vụ Thành ủy và làm Trưởng ty Công an. Đến năm 1951, tôi đang giữ trọng trách Phó giám đốc Công an Đặc khu Hà Nội thì anh Trần Quốc Hoàn, Bí thư Đặc khu ủy Hà Nội (sau này là Bộ trưởng Bộ Công an) bàn với tôi tạm giao lại công việc cho lãnh đạo Công an ở căn cứ để thực hiện một nhiệm vụ mới của cấp ủy, đó là vào nội thành Hà Nội bí mật hoạt động. Những lần ra vào nội thành, nhiều lần “qua mặt” mật thám, được sự giúp đỡ của cơ sở, tôi đã chuyển những thông tin xác thực về cho Đặc khu ủy. Những báo cáo do tôi gửi về cho anh Hoàn, cộng với tình hình do hai quận ủy báo cáo đã giúp cho Đặc khu ủy có thêm sự nhìn nhận tình hình nội thành sát hơn trước. Đến năm 1952 thì Đặc khu ủy có chủ trương dứt khoát chuyển hướng hoạt động ở nội thành Hà Nội, kết hợp hoạt động bí mật bất hợp pháp với hoạt động công khai hợp pháp và nửa hợp pháp. Chủ trương mới này được thi hành cho đến thời gian có Hội nghị Genevơ.

Những năm 1960, khi đang giữ chức Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị (tức An ninh chính trị), ông Nguyễn Tài đã đề đạt nguyện vọng với Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn để vào hoạt động trực tiếp ở miền Nam. Được sự nhất trí của cấp trên, năm 1964 người con miền Bắc Nguyễn Tài đã theo tàu không số vào Nam và bắt đầu cuộc chiến đấu mới ở vùng địch chiếm.

Lần giở những miền kí ức, ông nói: việc tôi đi Nam, cấp trên cho phép tôi nói thật để mọi người trong gia đình biết, trừ trẻ nhỏ. Bố, mẹ tôi rất buồn và lo lắng, vì anh trai tôi đã hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, nhưng bố mẹ tôi vẫn đồng tình với việc tôi đi Nam. Cái Tết năm 1964, cả nhà vẫn sum họp ăn Tết, nhưng ai cũng thầm nghĩ đây có thể là Tết sum họp không biết đến bao giờ mới có lại. Ngày 21-3-1964, tôi đã trên tàu sắt không số, ròng rã 8 ngày trên đường Hồ Chí Minh trên biển và lần đầu tiên tôi đặt chân lên miền Nam là Rạch Gốc (Cà Mau).

Trong những năm tháng hoạt động trong vùng địch chiếm ở Sài Gòn-Gia Định, kỷ niệm được ông nhiều lần nhắc tới trong khi trò chuyện cùng tôi là Tết Mậu Thân 1968. Theo sự chỉ đạo của Khu ủy, nhiệm vụ của các chiến sĩ an ninh T4 trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy năm 1968 là phải diệt bọn ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân, nhất là bọn đầu sỏ nhằm hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy. Ban An ninh khu Sài Gòn-Gia Định T4 do ông làm trưởng ban, ông Sáu Dân (tức Võ Văn Kiệt) lúc đó giữ cương vị Bí thư Đặc khu Sài Gòn Gia Định.

Ông kể: Tối 29 Tết, tôi đã triệu tập các đồng chí chủ chốt của các đơn vị an ninh từ nội thành Sài Gòn về xã An Ninh (giáp bờ sông Vàm Cỏ Đông) để truyền đạt mệnh lệnh. Thay mặt lãnh đạo Ban An ninh T4, tôi chúc Tết anh em và các đơn vị. Mọi người truyền tay nhau uống mỗi người một ngụm rượu và chúc Tết lẫn nhau, bày tỏ quyết tâm hoàn thành các nhiệm vụ được giao trong đợt. Cả đêm đó, mọi người đều không ngủ được, chỉ mong trời sáng để kịp trở về đơn vị của mình ở nội thành.

Ngoài việc diệt ác ở nhiều khu vực trong thành phố, cảnh cáo những tên tay sai chưa có nợ máu với nhân dân, Tiểu đội vũ trang của An ninh T4 làm nhiệm vụ dẫn đường cho một tiểu đoàn chủ lực của ta có nhiệm vụ từ phía Nam Sài Gòn đánh vào Tổng nha Cảnh sát, trên đường hành quân gặp phải sự kháng cự của địch, gần hết tiểu đội đã anh dũng hy sinh, một số đồng chí bị thương nặng đã bị địch bắt làm tù binh. Một đơn vị an ninh vũ trang khác làm nhiệm vụ bảo vệ Ban chỉ huy Tiền phương 2 phía Nam Sài Gòn cũng chiến đấu rất dũng cảm để bảo vệ an toàn cho ban chỉ huy...

Sau đợt 1 của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, theo chỉ đạo của cấp trên, lực lượng An ninh T4 do ông trực tiếp chỉ huy, bước vào thời kỳ hoạt động mạnh. Các chiến sĩ an ninh T4 đã dũng cảm mưu trí lập nhiều chiến công gây tiếng vang lớn trong thành phố như dùng lựu đạn nổ và lựu đạn cháy tấn công xe ô tô chở tên Thiếu tướng Kiểm, Tham mưu trưởng Biệt bộ Phủ Tổng thống ngụy quyền; vụ tấn công xe hơi có hộ tống của Thủ tướng ngụy Trần Văn Hương ở ngay trong khu vực mà địch coi là an toàn nhất; vụ nổ mìn ngay cổng ra vào Tổng nha Cảnh sát vào lúc tan giờ làm việc; vụ nổ mìn ở rạp Quốc Thanh là nơi bọn cảnh sát và mật vụ ngụy tụ tập chơi bời... Hoạt động điệp báo trong thời kỳ này đã thu được nhiều tin tức quan trọng, và có một số cơ sở có tác dụng tốt cho đến tận 30-4-1975.

Ngày 23-12-1970, khi trên đường đi họp Thường vụ Thành ủy Sài Gòn, ông Nguyễn Tài cùng hai đồng chí của mình đã bị địch bắt trên sông Cửu Long, thuộc địa bàn tỉnh Bến Tre. Từ đây, bọn địch đã đưa ông qua Cần Thơ, Bình Đức và cuối cùng chúng giam giữ ông tại trại tù số 3 Bạch Đằng của Trung ương tình báo Ngụy.

Tính từ ngày bị bắt cho tới khi được quân giải phóng giải thoát, ông Nguyễn Tài đã chịu đựng 4 năm, 4 tháng, 10 ngày tù biệt giam.

Trong suốt thời gian này, người chiến sỹ Nguyễn Tài đã một mình “đối mặt với CIA” và vượt qua những đòn tra tấn hỏi cung mà ông gọi là “trò chơi của bầy quỷ dữ”. Trong cuốn hồi ký Ngọn lửa, ông đã nhắc lại những đòn tra tấn dã man của địch như chúng trói hai tay ra sau lưng rồi buộc treo lơ lửng, đánh bằng dùi cui và bằng điện hay bắt ông nằm ngửa trên một cái ghế dài, đầu thấp hơn chân, lấy nẹp gỗ đóng đinh vào ghế, để giữ đầu nguyên một chỗ rồi chúng cho nước nhỏ vào đúng tinh mũi. Giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác nên sau dần mỗi giọt nước “như một nhát búa”. Có lần bọn địch dùng cái thước kẻ kẹp ngón tay, đau buốt thấu xương. Có lúc chúng bỏ đói cho tới tận 6 ngày, cấm uống nước 3 ngày. Một đòn tra tấn khiến ông nhớ mãi là bắt ông ngồi trên ghế đẩu, không ăn uống, thức suốt 10 ngày đêm liền... Nhưng chúng đã không lay chuyển nổi khí tiết của người cách mạng trong ông, chúng đã không khai thác được bí mật nào mà ông biết, kể cả cơ sở.

Khi bị địch bắt, ông Nguyễn Tài mang “bình phong” Nguyễn Văn Lắm theo giấy căn cước do địch cấp và ông khai là dân di cư vào Nam năm 1954. Nhưng do khi đó địch phát hiện giấy đi đường của ông có thể làm giả nên ông đã chủ động lái hướng điều tra của chúng khỏi hẳn mảng Định Thủy-Mỏ Cày (Bến Tre), nơi có cả mảng giao liên vận tải của ta ở đó và nhận mình mới vào Nam được một tháng, bằng tàu, vùng Bình Đại với tên là Nguyễn Văn Hợp, đại úy dân quân.


Ông kể lại: Lúc đó chúng đã phần nào tin vào những gì tôi khai nếu như không bị sơ hở của ta ở bên ngoài khiến tôi bị lộ. Chuyện là sau khi tôi bị bắt, anh Ba Tâm - Phó ban An ninh T4-gửi thư cho Hai T- là cán bộ điệp báo ở trong nội thành Sài Gòn-với nhiệm vụ tìm Nguyễn Văn Lắm, bị bắt trên sông Cửu Long ngày 23-12-1970, hiện đang bị giam để lo tiền chuộc. Khi địch bắt được Hai T, chúng khám nhà và phát hiện được bức thư nói trên của Ba Tâm mà Hai T chưa kịp hủy. Từ manh mối này, địch đã dần phán đoán được vị trí của tôi ở trong tổ chức. Chúng đã đưa ảnh tôi đi điều tra tại tất cả các trại giam có cán bộ an ninh của ta và lần ra manh mối tôi là Tư Trọng (bí danh của tôi). Thời gian này, địch đã bắt giữ một số đồng chí của ta và trong số này đã có một số kẻ phản bội. Những lần đối chất, những kẻ phản bội khẳng định tôi là Tư Trọng nhưng tôi vẫn khẳng định mình là Nguyễn Văn Hợp. 6 tháng duy trì “trò chơi” như vậy, cuối cùng khi chúng so tự dạng, tôi mới nhận mình là Đại tá Tư Trọng...

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, theo Hiệp định thì những người chống Mỹ cứu nước, đang bị Mỹ ngụy bắt giam giữ đều phải được trao trả cho Chính phủ Việt Nam DCCH hoặc Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Nhưng do phía Mỹ ngụy vi phạm Hiệp định Paris nên rất nhiều người của phía ta vẫn bị chúng giam giữ. Từ tháng 2-1973 đến 30-4-1975, ông Nguyễn Tài đã phải trải qua ba cái Tết mà ông gọi là “Tết tù dư”, cho tới tận quá 12 giờ 30 giờ Sài Gòn ngày 30-4-1975, khi quân giải phóng tấn công vào giải phóng Sài Gòn thì ông mới được giải thoát.

Sau này mới ra tù tôi mới được biết- ông nhớ lại- hồi tháng 11-1971, được phép của tổ chức Đảng cấp trên, anh Trần Bạch Đằng nhân danh Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ký một bức thư, giao cho một Trung sỹ Mỹ được ta phóng thích mang về Sài Gòn, đặt vấn đề với phía Mỹ để trao đổi tôi với một sĩ quan tình báo Mỹ, trước khi đôi bên có ký kết ở Paris. Anh Trần Quốc Hoàn có giải thích cho tôi ý định của lãnh đạo lúc đó biết là việc trao đổi tù binh trước khi ký kết ở Paris khó có thể tiến hành một cách suôn sẻ nhưng cốt để làm cho Mỹ ngụy không thể giết chết tôi. Anh Trần Quốc Hoàn cho tôi hay, bọn nhân viên tình báo ngụy ra trình diện có khai rằng ngày 26-4-1975, Nguyễn Khắc Bình là người đứng đầu ngành cảnh sát, kiêm đứng đầu cơ quan tình báo Trung ương Ngụy quyền Sài Gòn đã ra lệnh thủ tiêu tôi. Nhưng vì thấy quân ta đã đến sát thành phố, nên bọn tay chân bên dưới không dám thi hành, sợ mang thêm tội với cách mạng.

Tháng 7-1975, ông Nguyễn Tài trở về miền Bắc sau 11 năm xa cách, trong đó có 5 năm gia đình không có thông tin về ông, có lúc tưởng ông đã hy sinh. Khi ông đi vào Nam, con gái đầu lòng 10 tuổi, khi ông trở về, con gái ông đã 21 tuổi.

Chia tay vợ chồng Anh hùng LLVT Nguyễn Tài, cổ tôi nghèn nghẹn khi được nghe và biết về cuộc đời hoạt động cách mạng của ông. Sát ngay cạnh nhà ông là một nhà trẻ, tiếng trẻ em nô đùa vang vọng, tôi thấu hiểu giá trị của “Độc lập-Tự do” mà thế hệ những người như ông đã gian khổ đấu tranh giành được. Bất giác nhớ tới hai câu thơ của ông, hai câu thơ như lời thề, lời tổng kết của một đời người đã dành trọn cho cách mạng: Đường đời, Cách mạng dầu gian khổ/Lý tưởng, Tâm tình vẫn sắt son...

ANH HÙNG LLVT NGUYỄN TÀI tên thật là Nguyễn Tài Đông, sinh ngày 11-12-1926, quê quán xã Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Cha ông là nhà văn Nguyễn Công Hoan, một cây bút văn xuôi đã có nhiều đóng góp to lớn cho văn học nước nhà.

Ông đã từng giữ các chức vụ: Trưởng Văn phòng Công an Khu XI; Ủy viên thường vụ Thành ủy, Trưởng ty Công an Hà Nội; Ủy viên Đặc Khu ủy; Phó giám đốc, quyền Giám đốc Công an Đặc khu Hà Nội; Ủy viên Đảng Đoàn Bộ Công an;Phó Văn phòng Bộ Công an; Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị, Bộ Công an; Ủy viên Ban An ninh Trung ương cục miền Nam (R); Trưởng ban An ninh Sài Gòn-Gia Định, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an); Phó Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước; Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan (1985 - 1989); Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa VIII và nghỉ hưu từ năm 1992 đến nay.

Năm 2002, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng VTND.

Năm 1977, Frank Snepp-nguyên phụ trách phân tích chiến lược của CIA ở Việt Nam đã xuất bản ở Mỹ cuốn hồi ký Decent Interval. Trong đó có một chương nhan đề "In good faith" (Nói thật tình) có đoạn:

“Với sự giúp đỡ của Mỹ, người Nam Việt Nam đã lập cho y (Nguyễn Tài-PV) một xà lim riêng và phòng hỏi cung (số 3 Bạch Đằng -PV), cả hai đều quét màu trắng và hoàn toàn trống trải, trừ một chiếc bàn, một chiếc ghế, một lỗ để đi tiểu; và những máy thu của truyền hình, những micro bí mật để theo dõi mọi cử chỉ mọi lúc thức ngủ của y. Các nhân viên canh gác đã sớm phát hiện một chỗ rạn nứt về mặt tâm sinh lý trong người y. Giống như nhiều người Việt Nam, y cảm thấy các mạch máu bị co lại khi bị phơi ra lạnh. Vì thế chỗ ở của y và phòng hỏi cung được lắp máy điều hòa nhiệt độ có công suất cao và bị giữ lạnh hoàn toàn.

Những người hỏi cung Nam Việt Nam đã phải làm việc 8 tháng, từ sau khi y bị bắt, hòng bắt y khai những bí mật. Nhưng họ đã thất bại. Y đã nói với một trong những người tra tấn y: “Tao sẽ bắn gục mày ngoài đường phố nếu tao thoát”...

...Y nhỏ người, nhưng thể lực vững, mỗi ngày tập thể dục hàng giờ trong xà lim 30 bộ vuông. Chỉ có trên nét mặt là thể hiện sự tàn phá của việc bị biệt giam lâu ngày-một khuôn mặt hốc hác xanh xao vì thiếu ánh sáng mặt trời, râu rậm hơn phần đông người Việt Nam vì mỗi tuần chỉ được phép nhổ râu hai lần. Tự mình có kỷ luật rất cao, Tài tự động thức dậy hàng ngày vào 6 giờ sáng, tập thể dục, đọc nửa tiếng đồng hồ sách Pháp hoặc tiếng Việt mà những người gác cung cấp cho y, rồi chờ ăn sáng. Sau đó y lại lặp lại nếp sống thường lệ suốt ngày cho đến khi đi ngủ, cũng tự động vào 10 giờ tối mà chưa hề bao giờ thấy mặt trời mọc và lặn”.

Anh Vinh


 ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀


--------------
Nguồn: Báo Hải Quan - 22/02/2016








 ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀ ❀


----------------------------------
Nguồn: -





TOP



TOP

Tưởng nhớ một người cộng sản tiền bối - Hữu Tính

Monday, February 29, 2016


KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY HY SINH CỦA ĐỒNG CHÍ TÔ CHẤN (1936-2016)

_ Hữu Tính _
Hưng Yên địa linh nhân kiệt, đã sinh ra những tài danh nổi tiếng trên các lĩnh vực chính trị (như Nguyễn Văn Linh, Lê Văn Lương...), quân sự (như Nguyễn Thiện Thuật, trung tướng Nguyễn Bình), y học (như Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác), văn học nghệ thuật (như Đoàn Thị Điểm) v.v...

Trong những chiến sỹ cách mạng kiên cường của buổi đầu thành lập Đảng, riêng thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ (Văn Giang) đã có những tên tuổi là niềm tự hào của nhân dân Hưng Yên và nhân dân cả nước. Trong các nhà cách mạng ưu tú ấy, có hai anh em ruột Tô Chấn và Tô Hiệu.

Đồng chí Tô Chấn khi bị đày ra Côn Đảo năm 1930



Đồng chí Tô Chấn, anh ruột của đồng chí Tô Hiệu, sinh năm 1904 trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống yêu nước tại thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang. Cụ nội của đồng chí là cụ Tô Ngọc Nữu, đốc học Nam Định. Khi triều đình Huế ký hiệp ước Giáp Thân 1884 gọi là hòa ước, thực chất là hàng ước Patenôtre, đặt nước Việt Nam bị chia làm 3 kỳ dưới sự thống trị của thực dân Pháp, cụ đã phản đối bằng cách từ chức về dạy học. Ông ngoại của đồng chí là cụ Ngô Quang Huy, đốc học Bắc Ninh, người lãnh đạo có uy tín trong phong trào Bãi Sậy (Hưng Yên) do cụ Nguyễn Thiện Thuật (tức Tán Thuật) đứng đầu. Cũng như Nguyễn Thiện Thuật, cụ được vua Hàm Nghi phong chức Tán Tương Quân Vụ, thường được nhân dân gọi là cụ Tán Ngô hay cụ Tán Bắc.

Bà Ngô Thị Lý, mẹ đẻ của đồng chí đã có công lớn trong việc nuôi dưỡng bảo vệ cán bộ thời kỳ hoạt động bí mật trước 1945. Các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Tử Bình, Trần Huy Liệu... thường về Xuân Cầu hoạt động, được bà chăm sóc chu đáo. Năm 2015, bà đã được Chủ tịch Nước truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”.

Phát huy truyền thống cao đẹp của gia đình và quê hương, đồng chí tham gia cách mạng từ rất sớm. Từ năm 1925, đồng chí tích cực tham gia hoạt động cách mạng trong các tổ chức yêu nước ở Hà Nội, Sài Gòn và Nam Bộ. Năm 1927, đồng chí tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học đứng đầu và trở thành một đảng viên cốt cán, kiên cường, được cử làm Đảng trưởng Kỳ bộ Nam kỳ.


Tháng 10 năm 1930, khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Nguyễn Thái Học bị thực dân Pháp xử tử hình, đồng chí được đề cử thay Nguyễn Thái Học và tiến hành mưu sát toàn quyền Đông Dương, vì chúng đang cấu kết để đàn áp phong trào cách mạng. Việc chưa thành thì đồng chí bị thực dân Pháp bắt tại Hà Nội, kết án tử hình, sau đó giảm án xuống chung thân, đày đi Côn Đảo. Giai đoạn những năm 1930 - 1936, trong nhà tù Côn Đảo, đồng chí đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí hăng hái tham gia đấu tranh kiên cường, tích cực học tập, trở thành một đảng viên nổi tiếng có kiến thức uyên bác và trí nhớ tuyệt vời về lý luận Mác - Lênin, được anh em rất tín nhiệm. Mùa xuân năm 1936, đồng chí được chi bộ nhà tù bố trí vượt Côn Đảo cùng đồng chí Ngô Gia Tự và một số đồng chí khác, song không may, đều bị hy sinh trên biển.

Đồng chí Tô Chấn cũng là người đã dìu dắt, giác ngộ đồng chí Tô Hiệu và một số thanh niên của làng Xuân Cầu hoạt động cách mạng như các đồng chí: Tô Gĩ (Lê Giản), Tô Quang Đẩu...

Tưởng nhớ Tô Chấn, những đồng chí cùng bị đi đày với Tô Chấn tại Côn Đảo đã tặng câu đối:

"Từ Xuân Cầu chọn hướng đời trai, chí cách mạng Tô hồng trang sử Đảng
Từ Côn Đảo tìm về Đất Mũi, gương hy sinh Chấn động một vùng trời".


Năm 2001, tỉnh ta đã tham gia lễ đón nhận tượng đồng danh nhân cách mạng Tô Chấn do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam trao tặng và đặt tại nhà thờ họ Tô (Xuân Cầu, Văn Giang). Có thể nói liệt sỹ Tô Chấn hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ (32 tuổi) nhưng đã có những cống hiến lớn lao cho cách mạng và dân tộc kể cả khi tham gia lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng yêu nước cũng như khi trở thành đảng viên cộng sản. Năm 2010, để ghi nhớ công lao to lớn của đồng chí Tô Chấn cũng như góp phần giáo dục thế hệ thanh thiếu niên về truyền thống cách mạng, HĐND tỉnh nhà đã quyết định đặt tên Tô Chấn cho một đường phố tại thành phố Hưng Yên.

Anh Tô Quyết Tiến, cháu ruột Nhà Cách mạng Tô Chấn đứng dưới tấm biển đường phố mang tên ông tại TP Hưng Yên.



Giáo sư, Anh hùng Lao động Vũ Khiêu đã trân trọng sáng tác đại câu đối 124 chữ, mỗi vế 64 chữ tổng kết cuộc đời oanh liệt của nhà cách mạng, liệt sỹ Tô Chấn như sau:

"Gió Xuân Cầu lồng lộng chí nam nhi, Hai chục tuổi lên đường cứu nước. Nào dựng xây tổ chức, Nào giác ngộ đồng bào, Nào mở rộng phong trào, Nào ngược xuôi Nam Bắc cùng nhân dân gắn bó nghĩa tình. Rồi phải buổi sa cơ mắc lưới, chốn lao lung tay xích chân cùm: Khí tiết vẫn sáng ngời trong sắt thép!

Hầm Côn Đảo nấu nung gan chiến sỹ, Hơn sáu năm đối mặt quân thù. Vẫn vững chắc tinh thần, Vẫn đấu tranh bất khuất, Vẫn nâng cao kiến thức, Vẫn rèn luyện ngày đêm, Được Đảng bộ tin giao trọng trách. Cho đến khi vượt biển chìm bè, Dù thể phách sóng vùi gió dập: Hồn thiêng còn toả rộng giữa trời mây".


Mùa xuân Bính Tuất GS Vũ Khiêu kính đề


Nhà báo Hữu Tính
02/02/2016
 ✯✯ 


Nguồn baohungyen.vn.

Bánh Xuân Cầu, nay còn đâu! - Bảo Anh

_ Bảo Anh _


(BĐT) - “Ăn chiếc bánh Xuân Cầu rưới mật, cái ngon ngọt có ý triền miên hơn, y như ta được đọc hết bài “Trường hận ca” của Bạch Lạc Thiên mà ta vẫn còn phảng phất thấy đâu đây cái buồn lả lướt của đức vua Đường thương nhớ người đẹp họ Dương”
(Món ngon Hà Nội – Vũ Bằng).

Vừa mê ẩm thực, lại vừa mê thơ Đường, nên từ khi đọc đoạn văn… ngon mê ly ấy, tôi đã quyết tìm hiểu về món bánh này, thứ bánh đặc trưng cho ngày Tết cổ truyền ở vùng đồng quê Bắc Bộ xưa. Cụ Vũ Ngọc Phan trong cuốn sách “Những năm tháng ấy”, với phong cách học thuật, miêu tả khá ngắn gọn: “Bánh huê Cầu là thứ bánh làm bằng bột nếp, vuông gần bằng ba ngón tay, màu vàng, xanh và đỏ, bỏ vào chảo mỡ đang sôi, bánh nở cong rất đẹp. Bánh huê Cầu do làng Xuân Cầu làm, Xuân Cầu thuộc Văn Giang, trước thuộc Bắc Ninh, nay thuộc Hưng Yên. Nhiều nhà sáng mồng một mới đem rán bánh. Bánh nở nhiều thì năm mới làm ăn thịnh vượng”.

Còn theo các bậc cao niên trong làng Xuân Cầu, thì bánh Xuân Cầu, hay Huê Cầu còn có tên dân dã là bánh mỡ (có lẽ do được rán bằng mỡ). Gia tộc Nguyễn Văn ở làng từng nổi danh khắp xứ nhờ nghề làm bánh này. Sau bao thăng trầm, nay nghề đã mai một, dù cách thức làm bánh dường như không quá phức tạp. Khâu đầu tiên là chiết xuất phẩm màu từ các loại hoa lá lành hiền, phổ biến ở làng quê: hoa hoè cho màu vàng tươi sáng, quả gấc cho màu đỏ thắm, lá gừng cho màu xanh mát mắt và rau dền đỏ đem lại màu hồng hoa đào... Gạo nếp ngâm kỹ, đãi sạch, để ráo rồi đem nhuộm gạo mỗi thứ một màu; đổ vào riêng từng góc chõ.

Đồ chín, đem xôi giã nhuyễn, dùng con lăn cán mỏng, cắt thành từng miếng vuông tròn tùy ý, nhưng chỉ nho nhỏ xinh xinh cỡ hai đầu ngón tay thôi, vì khi rán mỡ, bánh sẽ nở phồng. Bí quyết để bánh nở đều, không bị “nổ” xấu là gia giảm thêm đậu xanh hoặc gạo tẻ ngâm kỹ, đồ cùng xôi nếp. Sau khi được đem phơi khô giòn, cất kỹ chỗ khô ráo.

Trước khi ăn, đem bánh rán trong chảo ngập mỡ. Bánh càng nở tròn đều, màu sắc tươi tắn thì gia chủ càng phấn khởi, tin tưởng vào một năm mới hanh thông thuận lợi đang mở ra trước mắt. Vì thế mà người sành ăn đất Bắc dùng bánh Xuân Cầu vừa là thưởng thức một món ngon quê hương, vừa là muốn xem một quẻ bói vui về năm mới.

Nhưng bánh rán giòn tan rồi cũng chưa được ăn ngay. Trước khi mời khách thưởng thức, gia chủ sẽ đem nước mật nấu với thảo quả tưới đều lên bánh thành những đường chỉ màu nâu đẹp mắt. Chiếc bánh lúc ấy mới đủ vị giòn tan, bùi, béo, ngọt…

Cũng nên nói thêm rằng, quê hương của chiếc bánh Xuân Cầu ý nhị ấy là một làng khoa bảng, với nhiều vị đại khoa thành danh. Xuân Cầu cũng là chiếc nôi sản sinh ra nhiều nhân sĩ, trí thức thời hiện đại. Đó là họa - sĩ - cha Tô Ngọc Vân; họa - sĩ - con Tô Ngọc Thành; nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhà cách mạng Tô Hiệu, nhà cách mạng Lê Văn Lương…

Xuân Cầu cũng từng nổi tiếng với nghề nhuộm vải thâm, đã có tự ngàn năm trước. Vải thâm Xuân Cầu được nhuộm bằng củ nâu, đun trong nước lá sòi (một loại cây thân gỗ mọc hoang), có khi dùng lá bàng, hoặc hạt dền; được dận bùn rồi mới giặt, phơi. Tấm vải nhuộm kiểu ấy dai, bền, không phai màu dẫu gội nắng phơi sương cùng người nông dân tần tảo.

Những đặc sản ấy đã thất truyền cùng những người muôn năm cũ, tiếc lắm thay!

Bảo Anh 13/02/2016