Tô Cương

Saturday, August 27, 2011

Các bài viết sưu tầm trên mạng







Đạo diễn - Nhà quay phim - Nghệ sĩ Nhân dân Tô Cương




Ông tên khai sinh là Tô Văn Cương, ngoài đời thường gọi là Tô Cương, quê làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên nhưng sinh ra ở thôn Đông Kiều, thị xã Hải Dương. Ông sinh năm 1910 trong một gia đình là dân nghèo thành thị.

Ông nội là Nguyễn Đức Chính, bà nội là Đinh Thị Ngân. Ông Nguyễn Đức Chính mất sớm, bà Đinh Thị Ngân tái giá, kết hôn với ông Tô Tôn Lục, nên thân phụ ông là Nguyễn Đức Siêu, lúc đó còn nhỏ cũng cải họ theo bố dượng lấy tên là Tô Tôn Chiêu và ông Cương khi mới sinh đã là người họ Tô.

Thuở nhỏ, ông được cha là Tô Tôn Chiêu dạy học chữ Nho. Đến năm 9 tuổi, ông mới được đi học chữ quốc ngữ và khi nhập học đã quá tuổi nên phải sửa năm sinh trong giấy khai sinh từ 1910 thành 1911, nhưng số 1 cuối cùng viết không rõ ràng đọc thành số 7 nên trong lý lịch của ông, ghi năm sinh là 1917.

Học chưa hết bậc tiểu học, ông đã theo cha lên Hà Nội học nghề, chủ yếu là nghề nhiếp ảnh. Tính thích phiêu lưu nên ông cũng sớm rời gia đình vừa học nghề kiếm sống vừa chu du đây đó. Trải bao thăng trầm, có lúc tạo dựng nên cơ nghiệp nhưng rồi lại trắng tay, ông vẫn không rời cuộc mưu sinh trôi nổi. Khi ra Bắc, lúc vào Nam, có khi phiêu bạt cả sang Lào, Campuchia, Thái Lan. Chính từ cuộc đời phiêu dạt đó đã rèn cho ông bản lĩnh sống và lòng yêu nước, hướng thiện.

Năm 1944, phong trào cách mạng nước ta ngày càng sôi sục. Lúc đó ông đang làm ăn ở Campuchia thì gặp được một số cán bộ cách mạng (ông Nguyễn Kim Cương, ông Lê Văn Sướng...) vận động kiều bào ủng hộ mặt trận Việt Minh, ông liền hăng hái tham gia. Lúc đầu là vận động ủng hộ Việt Minh chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, sau chuyển sang vận động Việt kiều đóng góp tiền của, mua sắm vũ khí để thành lập các đơn vị vũ trang về tham gia kháng chiến bảo vệ chính quyền cách mạng.

Ông đã góp phần quan trọng thành lập được 3 đại đội vũ trang lấy tên là “Cao Miên Việt kiều cứu quốc quân”. Khi quân Pháp được sự giúp đỡ của liên quân Anh -Ấn phát động chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai (23-9-1945), các đại đội cứu quốc quân lần lượt về nước tham gia chiến đấu. Ông được chỉ định làm đại đội trưởng một đại đội, tham gia chiến đấu ở miền Tây Nam Bộ.

Đầu năm 1946 ông được giao nhiệm vụ về nội thành Sài Gòn tổ chức mạng lưới mua sắm các vật phẩm, trang thiết bị, thuốc men, dụng cụ y tế... cung cấp cho vùng tự do. Năm 1947 ông bị địch nghi ngờ bắt giữ. Chúng tra tấn ông rất dã man, nhưng ông một mực giữ vững khí tiết không khai, quyết bảo vệ mạng lưới hoạt động. Do không có chứng cớ, mặt khác do tổ chức và gia đình chạy chọt, đút lót cho bọn chỉ huy cảnh sát, nên sau 10 ngày ông được trả tự do.

Ngay sau đó ông được điều ra vùng tự do (Quân khu 7). Trải qua một thời gian thẩm tra lòng trung thành khi bị địch bắt, cùng với việc mạng lưới nội thành vẫn an toàn, ông được giao công tác trở lại.

Năm 1949 ông trở thành đảng viên cộng sản và được Trung tướng Nguyễn Bình giao nhiệm vụ xây dựng ngành điện ảnh, nhiếp ảnh. Ông trở thành phóng viên chiến trường, theo sát các đơn vị chủ lực trong chiến đấu. Ông đã tổ chức các cuộc trưng bày ảnh, các buổichiếu phim đèn chiếu đem đến cho nhân dân, bộ đội khu giải phóng những hình ảnh tươi mới và sống động của bộ đội chiến đấu, công đồn, đánh phá giao thông; của nhân dân và dân quân du kích sát cánh bên nhau sản xuất, lập làng chiến đấu, chống địch càn quét. Ông đã tích cực đào tạo nghề cho đội ngũ những người làm công tác điện nhiếp ảnh quân đội và dân sự.

Cuối năm 1952 khi ngành điện ảnh Quân khu 7 đã trưởng thành cả về nhân sự và cơ sở vật chất kỹ thuật, cũng là lúc sức khoẻ ông suy sụp do làm việc quá căng thẳng trong điều kiện gian khổ, ác liệt của chiến trường miền Đông Nam Bộ. Ông bị sốt rét ác tính và chớm lao phổi nên được điều về Quân khu 9, nơi có điều kiện đỡ khó khăn hơn, vừa công tác, vừa kết hợp chữa bệnh.




Năm 1954, hoà bình lập lại, ông tập kết ra Bắc. Tháng 4 năm 1956 ông được chuyển ngành về lại với ngành điện ảnh, về Xưởng phim Việt Nam. Như cá về với nước, từ đây ông lao vào học tập, tự trau dồi nghiệp vụ chuyên môn và say sưa làm việc. Mảng của ông là phim thời sự, công việc chính là quay phim, nhưng tất cả các khâu có liên quan từ kịch bản, biên kịch, đạo diễn, biên tập, dựng phim... khi cần ông đều làm để tạo ra những tác phẩm mang đậm hơi thở cuộc sống, chân thực, nóng hổi tính thời sự. Tháng 2 năm 1968 ông được điều về Cục Điện ảnh cho đến ngày nghỉ hưu (năm 1973).

Trong cuộc đời làm phim của mình, ông đã đóng góp vào kho tàng điện ảnh nước nhà hơn 50 bộ phim lớn nhỏ, trong đó có nhiều bộ phim được giải thưởng có giá trị như:

1. Bộ phim “Như đón cả 14 triệu đồng bào miền Nam anh hùng” nhân kỷ niệm 20 năm cách mạng miền Nam 1953 - 1973.
  • Giải Bông Sen vàng - Quay phim

2. Bộ phim “Trung đoàn bộ binh trong tấn công địch phòng ngự có chuẩn bị sẵn”.
  • Giải Bông sen vàng - Đạo diễn kiêm Quay phim
  • Đây là bộ phim giáo khoa quân sự đầu tiên của Việt Nam, đánh
    dấu bước trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam trên
    đường chính quy hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn mới.

3. Bộ phim “Việt Nam tổ quốc tôi”, phối hợp với đạo diễn Kai mốp - Liên Xô.
  • Giải Huy chương vàng tại Liên hoan phim Tasken - Liên Xô

4. Bộ phim “Trở lại Điện Biên” tại Liên hoan phim Á - Phi, Jacarta 1964.
  • Giải Lumumba - Đạo diễn kiêm Quay phim

5. Bộ phim “Mở đường Trường Sơn” - Đạo diễn kiêm Quay phim
  • Giải Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 3.
  • Giải Huy chương bạc và “Người quay phim dũng cảm” tại Liên
    hoan phim Mockva lần thứ 8.

Ông được tặng thưởng:
  • Huân chương chiến thắng Hạng Ba
  • Huân chương kháng chiến Hạng Nhất
  • Và nhiều bằng khen của Bộ Văn hoá và Chính phủ.

Ông mất năm 1985 hưởng thọ 76 tuổi.
  • Năm 1983 được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú.
  • Năm 2012 được truy tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.


TTHTVN

Viết theo tư liệu của con trai ông là Tô Trang










Nhà quay phim Tô Cương: "Ông cụ đã cứu mình"



Ông bồi hổi kể, Bác Hồ có thói quen đi rất nhanh. Bác bước từng sải dài, chỉ nhắm nhanh đến đích, để thực hiện công việc của mình. Anh em quay phim nhiều khi không bắt kịp hình ảnh của Bác, nhưng ngại, không biết làm như thế nào. Một hôm, trong lúc nói chuyện, Bác quay sang hỏi nhà quay phim An Sơn: “Hôm nay các chú có làm được việc không?”. Lúc này, ông mới mạnh dạn bộc bạch với Bác: “Thưa Bác, Bác đi nhanh quá ạ. Phim nhựa mang theo người nặng lắm, mà Bác đi nhanh như thế, cháu không quay được ạ”. Từ đó, khi máy quay hướng vào Bác, Bác chủ động đi chậm lại, tạo thuận lợi để thu được những thước phim về Bác.

Bác Hồ luôn quan tâm đến những việc rất bé như vậy. Câu chuyện của nhà quay phim Tô Cương được nghệ sĩ Việt Tùng kể lại trong niềm xúc động. Đầu năm 1960, gia đình Luật sư Lô-Giơ-Bai, ân nhân của Bác trong vụ án Hồng Kông sang thăm Việt Nam. Bác Hồ đưa các vị khách quý đến thăm Nhà máy Công cụ số 1.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà quay phim Việt Nam
Trong lúc đang quay phim, đột nhiên máy quay bị hỏng. Bác nghe xoạch một tiếng, biết là máy quay không chạy được. Bác chủ động dừng lại, quay ra nói chuyện với các vị khách, tạo thời gian cho anh em sửa máy. “Cụ lo cho mình như thế đấy. Nếu Cụ đi thẳng, mình không chữa được máy, không quay được hình ảnh Cụ, không hoàn thành được nhiệm vụ, chắc chắn sẽ bị kỷ luật…”. Ông Việt Tùng lúc bấy giờ làm ánh sáng phụ cho ông Tô Cương quay phim về Bác kể lại. Sau lần đó, nhà quay phim Tô Cương cứ xuýt xoa: “May quá, Ông Cụ đã cứu mình”.

Theo Phương Loan - Vietnamnet




Tô Lâm

Friday, August 26, 2011

  



Tô Lâm (sinh 1957) là một chính khách và là tướng lĩnh Công an Nhân dân Việt Nam hàm Thượng tướng. Ông hiện là Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an. Ông có học hàm, học vị là Giáo sư, Tiến sĩ ngành Khoa học An ninh.


Tiểu sử
Ông sinh ngày 10 tháng 7 năm 1957, quê quán tại xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Thời trẻ, ông là học sinh khóa 6 (1974-1979) Trường Công an Trung ương sau đổi là Đại học An ninh Nhân dân, nay là Học viện An ninh Nhân dân. Sau khi tốt nghiệp, ông phục vụ trong ngành An ninh và thăng tiến qua nhiều chức vụ. Năm 2007, ông giữ chức Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, hàm Thiếu tướng. Năm 2010, ông được thăng lên giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh I, hàm Trung tướng

Ngày 12 tháng 8 năm 2010, ông được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm vào chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an. Tháng 1 năm 2011, ông dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Ngày 16 tháng 9 năm 2014, ông được Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăng cấp hàm từ Trung tướng lên Thượng tướng.[1]

Ngày 22 tháng 10 năm 2015, ông được phong học hàm Giáo sư ngành Khoa học An ninh

Tháng 1 năm 2016, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, ông được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.[2]

Ngày 9 tháng 4 năm 2016, ông được Quốc hội phê chuẩn làm Bộ trưởng Bộ Công an.


Tô Lâm
Phong tặng
Huân chương Quân công hạng Ba (2011).[4]
Huân chương Quân công hạng nhất (5/8/2015).

Mời xem:
  1. Tô Lâm - Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
  2. Đồng chí Tô Lâm - Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
  3. To Lam - Website thông tin về Thứ trưởng Bộ Công An Tô Lâm

Hoàng Đình Tài

Wednesday, August 24, 2011



Xem trang WEB: ARTIST HoangDinhTai



Nơi ký ức thăng hoa
Tôi bước vào căn phòng vừa là phòng khách vừa là xưởng vẽ của họa sĩ Hoàng Đình Tài. Khắp trên tường, dưới đất, chỗ nào cũng kín những bức sơn mài "im ắng, nặng nề". Lại thêm cái tủ chè cũ đầy ắp những lọ bình cổ, khiến tôi liên tưởng ông như một vị gia chủ đầy thâm trầm, nghiêm nghị...

Phá tan những suy đoán của tôi bằng tiếng cười sảng khoái, ông vui vẻ kể cho tôi nghe những chuyện đã qua của đời mình, những kỷ niệm đẹp không bao giờ quên. Câu chuyện cứ mở ra như cách người họa sĩ tạo nên bức tranh sơn mài, từng lớp màu trầm ấm của gỗ, của đất, của nước, len qua vóc là những ánh vàng, ánh bạc, các hình hài như đang trở về, đang trỗi dậy, cuốn hút một cách dai dẳng.


Sinh ra tại làng cách mạng Xuân Cầu (Nghĩa Trụ, Văn Giang, Hưng Yên), nơi sản sinh ra hai vị tiền bối của nền văn nghệ Việt Nam đương đại là Nguyễn Công Hoan và Tô Ngọc Vân, nhưng Hoàng Đình Tài lại có tuổi thơ gắn bó với thành phố Hải Phòng. Ông sớm sinh hoạt trong Hội Văn nghệ Hải Phòng, tham gia vẽ tranh, làm áp-phích cổ động. Những ngày cả nước hướng ra tiền tuyến, ông đã tình nguyện nhập ngũ. Cùng đợt ấy còn có Nguyễn Khắc Phục, Thi Hoàng, Vũ Hữu Ái, những văn nghệ sĩ đất Cảng đầy nhiệt huyết.

Hoàng Đình Tài đã nhận công tác tại Binh trạm 8 (thành phố Vinh), và may mắn, cũng là cái duyên khi ông được cùng đơn vị với nhà thơ Phạm Tiến Duật. Hai người trở nên thân thiết khi cùng nhau qua Bộ Tư lệnh 500, rồi lại cùng chuyển về Bộ Tư lệnh 559. Hai ông đã lăn lộn khắp các tuyến đường 20 để sáng tác, đi theo các đơn vị thanh niên xung phong, bộ đội mở đường, lấp hố bom, trực chốt. Phạm Tiến Duật khoác máy ảnh, súng, gạo, còn Hoàng Đình Tài thì cắp cặp vẽ cùng nhau rong ruổi khắp các rừng thẳm, những trọng điểm lở loét bom thù, những con đường vận tải như ruột thú cào xé. Khi thì trên đỉnh Aki vừa vẽ vừa chạy máy bay địch, khi thì khẽ khàng nhón chân qua bãi bom bi lăn lóc trên đường tới Tale Phutanhic.

Trên đỉnh núi Tale, Hoàng Đình Tài đã vẽ một bức ký họa đẹp, ghi lại phút thi hứng của nhà thơ: Phạm Tiến Duật đang ngồi làm thơ trên mỏm đá, bên hông là chiếc máy ảnh Kiev, tóc bay lòa xòa và con mắt như xa mờ. Bức ký họa này, Hoàng Đình Tài có ý giữ riêng cho bản thân, nhưng 30 năm sau, ông đem tặng thi sĩ như một món quà đầy yêu thương.

Thời gian ấy, Hoàng Đình Tài vẽ với tất cả tình yêu vụng về của tuổi trẻ: Từ những con đường, dòng suối, căn hầm tới khuôn mặt bạn bè trẻ trung lúc vào trận. Ông vẽ hang đá, vẽ chiếc cầu treo lung lay vắt qua vực thẳm, vẽ em gái Việt kiều ở Campuchia xinh tươi may áo cho chiến sĩ, vẽ người dân Lào Thưng dời làng mở đường. Có những bức thật sống động, như bức "Ngủ ngày" vẽ về những chiến sĩ công binh ngủ trong hang đá. Họ ngủ miên man nhưng trên mỗi khuôn mặt vẫn ánh lên vẻ hồn nhiên tươi sáng của tuổi trẻ...

Tranh của Hoàng Đình Tài được "triển lãm" ngay trong hang đá, trên cổng trời, giữa vùng cây cháy ngổn ngang, dọc đường giao liên hay đơn giản là hai cánh tay giơ cao bên đường quân đi. Do thiếu mực, thiếu giấy, nhiều khi ông vẽ cả lên giấy lót hòm mìn công binh, bạt xe cháy sót, vẽ bằng cả que chấm mực, bằng nhựa cậy và đất núi Xê Công, Tha Mé, những địa danh bất tử của chiến trường. Nhiều bức như "Lòng dân A Lắc", "Giữa hai trận đánh", "Trọng điểm Văng Mu", "Bản mới giải phóng" vẽ rất công phu, được cán bộ chiến sĩ rất tán thưởng.

'Kiếp người' - tranh sơn mài của hoạ sĩ Hoàng Đình Tài được Giải thưởng nhà nước năm 2007."Kiếp người" - tranh sơn mài của họa sĩ Hoàng Đình Tài
được Giải thưởng nhà nước năm 2007.


Năm 1970-1972, Hoàng Đình Tài ra miền Bắc công tác. Những bức họa từ mặt trận của ông được dịp quảng bá. Lúc này cái tên Hoàng Tài Vị đã trở nên quen thuộc trên các báo Nhân dân, Tổ quốc, Thống Nhất, Quân đội Nhân dân, Văn nghệ... Bút danh này được Hoàng Đình Tài chọn như cách nhớ về người mẹ tần tảo nơi quê nhà, bà Tô Thị Vị.

Tháng 1 năm 1972, do những hoạt động mỹ thuật ở chiến trường, Hoàng Đình Tài được kết nạp vào Hội Mỹ thuật Việt Nam, khi ấy ông mới 25 tuổi. Ông Huỳnh Văn Gấm, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam lúc bấy giờ nói, đây là họa sĩ trẻ nhất Hội Mỹ thuật Việt Nam, mà lại không qua trường lớp nào. Cùng năm ấy, Hoàng Đình Tài còn được tham dự trại sáng tác ở Hà Nội. Đây là cơ hội ngàn vàng để ông gặp gỡ với những danh họa như Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Sáng... Họa sĩ Nguyễn Tiến Chung - Phó giám đốc trại, đã phát hiện ra Hoàng Đình Tài, ông chỉ ra cái mạnh, cái yếu của họa sĩ trẻ. Ông từng xúc động khi nhìn những nét bút của Tài: "Ký họa của cậu có lửa và có cả ngọc nữa". Đây là một phần thưởng lớn cho người họa sĩ mới ở rừng ra còn nhiều bỡ ngỡ.
Họa sĩ Hoàng Đình TàiHọa sĩ Hoàng Đình Tài

Ba tháng ở trại với sự hướng dẫn của các họa sĩ bậc thầy, Hoàng Đình Tài cảm thấy những năm vẽ một cách "bản năng" ở chiến trường giờ mới được khơi mở, thoát khỏi lối vẽ trực tiếp để có thể xây dựng những tác phẩm lớn, có những hư cấu, cách điệu.

Những năm học tại Trường Mỹ thuật Hà Nội (1974-1979), Hoàng Đình Tài lại có cơ hội gần gũi với các danh họa như Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên... Nhiều phác thảo của ông được các danh họa góp ý. Dường như cái dáng vẻ bộ đội xanh xao, gầy gò và hơn cả là tấm lòng chân thật của Hoàng Đình Tài lại càng khiến các bậc tiền bối thêm cảm động, thêm yêu và hết lòng chăm sóc, hướng dẫn ông.

Có người nói Hoàng Đình Tài ít nhiều bị ảnh hưởng bởi những người thầy này, đặc biệt trong cách tạo hình có hơi hướng của Nguyễn Sáng. Ông không phủ nhận điều này vì cho rằng đó là cái tất yếu của những thân phận, khi sinh ra đều đã thấy trên đầu mình những cái bóng đại thụ. Không chỉ ảnh hưởng bởi phương pháp tạo hình, Hoàng Đình Tài còn bị Nguyễn Sáng mê dụ bởi cách sống, bởi cái sáng trọng vốn có trong nghệ thuật của ông.

Với Hoàng Đình Tài, Nguyễn Sáng là người họa sĩ của đời sống, ông đã kết hợp được cái hào sảng đậm chất Nam Bộ với cái sâu xa, thâm thúy rất Bắc Kỳ. Cách tạo hình thô mộc, chắt lọc, nét bút to khỏe đậm đà và một cách nhìn phi thời gian. Ông còn nhớ rõ những lời khuyên chân thành của Nguyễn Sáng, như lần đầu mang tranh đến hỏi họa sĩ, chỉ cần thấy vết xước đằng sau tranh, Nguyễn Sáng đã dạy cho ông về cách trân trọng mỗi tác phẩm.

Hay như lần Hoàng Đình Tài sử dụng chất liệu thiếc thay cho bạc trong một bức sơn mài, đã bị họa sĩ phát hiện ra ngay, ông chân thành nói: "Nếu em ít tiền thì nên vẽ bột màu, chứ đừng đi theo sơn mài. Đã đi theo chất liệu nào thì phải đáp ứng đầy đủ, chứ đừng vì ít tiền mà thay thế như vậy". Đây là một lời khuyên mà Hoàng Đình Tài nhớ mãi. Ông như học được cái chất sang trọng ở bậc thầy này, một thế giới thần tiên, trong trẻo. Cũng đã không ít lần Nguyễn Sáng bảo ông xóa bức này bức khác, một sự góp ý chân thành, yêu quý nhau, nhưng cũng có lần Hoàng Đình Tài được ông khen: "Tranh của em đã có con mắt nhìn của người Việt Nam". Sự gần gũi giúp Hoàng Đình Tài hiểu hơn về một con người có dáng vóc cao lớn, vẻ mặt dữ nhưng lại đầy yếu đuối, đau thương. Trong từng câu chuyện, từng lời chỉ bảo, ông như cảm nhận nỗi khát khao yêu thương, nỗi buồn nhớ quê, nhớ mẹ của bậc đàn anh.

Nguyễn Tư Nghiêm, một họa sĩ luôn sống ẩn mình cũng nhận ra cái nhiệt tình và hóm hỉnh ở Hoàng Đình Tài. Ông đối với Hoàng Đình Tài như một người em chân thành, một người bạn thường xuyên to nhỏ chuyện trò. Đã nhiều lần hai người thuê chung một người mẫu để vẽ, nhưng ông Nghiêm đều giành phần trả tiền. Trong một lần ăn cơm rang với lạc muối, Hoàng Đình Tài cũng được ông Nghiêm kể cho về các chất dinh dưỡng trong lạc, phong phú và đầy đủ như đang ăn một bữa tiệc. Chỉ thế thôi mà Hoàng Đình Tài cứ nhớ mãi, ấn tượng mãi về một người trong gian khổ vẫn lạc quan sống, vẫn tìm ra được sự thăng hoa trong tinh thần.

Sau mười năm làm việc tại Công ty Mỹ thuật trung ương (1980-1990), Hoàng Đình Tài trở về làm một họa sĩ tự do. Tác phẩm như nhiều hơn, đề tài cũng phong phú hơn. Không bị chìm đắm trong mảng đề tài chiến trường như nhiều người, ông quay về với những sắc màu dân gian, văn hóa đình làng hay những ký ức về tuổi thơ. Các tác phẩm "Khát vọng", "Nhảy múa", "Đất bazan", "Trẻ em đến trường", "Miền quan họ", "Nhạc rock"... mở ra những không gian mơ hồ đầy cảm xúc của người nghệ sĩ. Sau bao nhiêu bồi đắp và mài rửa, Hoàng Đình Tài đã tìm ra thứ màu riêng cho mình, không giống với ai đã vẽ chất liệu này.

Với 3 triển lãm cá nhân, cùng Giải thưởng Nhà nước (2007) - đó là những dấu mốc đáng nhớ trong cuộc đời người họa sĩ hết lòng vì nghệ thuật. Ở tuổi 60, Hoàng Đình Tài như đang kiểm lại hành trang đời mình. Trước mắt, ông còn nhiều dự định cho một cuộc triển lãm mới về Trường Sơn hay lập một bảo tàng của riêng mình...

Tường Hương


Nguồn: Báo Công An Nhân Dân Điện tử





Các bài viết sưu tầm trên mạng


  1. Hoạ sĩ Hoàng Đình Tài: Một mình một lối - Nguyễn Văn Học, 07/11/2009, Báo Công An Nhân Dân Điện tử.
  2. HOÀNG ĐÌNH TÀI - VẺ ĐẸP CỦA SỰ BÌNH YÊN - Đỗ Đức, 20/11/2008, Mỹ thuật Việt Nam - Tạp chí Mỹ thuật.
  3. Trường Sơn trong từng nét vẽ - Huyền Trang, 19/05/2009, Báo điện tử Đài TNVN.

  1. Hải Phòng Trong mắt người Hoạ sỹ - Hoàng Đình Tài, 07/06/2009, Diễn Đàn về TP Hải Phòng.
  2. Tranh sơn mài đích thực và bản lĩnh người họa sĩ - Hoàng Đình Tài, 28/09/2011, vanchuongviet.org.
  3. TRƯỜNG SƠN TRONG CẶP VẼ - Hoàng Đình Tài, Tạp chí điện tử Văn Hiến Việt Nam

❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖ ❖




Tới trường - sơn mài - 150cmx100cm
Đi lễ - Giải thưởng Nhà nước 2007



Trương Uyên: Một nhà báo tận tâm với nghề

Tuesday, August 23, 2011
_ Thọ Cao - Báo Hànộimới _

(HNM) - Hơn 40 năm làm việc với nhau ở Báo Thời Mới, rồi Hànộimới, tôi vẫn nhớ cái hình ảnh về Trương Uyên: một chàng trai có mái tóc cắt cao, chải mượt, để ria mép, quần áo phẳng, cổ đeo cà vạt, nghiện cà phê, thuốc lá, thích nhảy đầm.

Ông chuyên làm tin trong nước và thế giới, viết chính luận, còn được giao vẽ makét 4 trang báo. Sống kín đáo, hầu như ông không bao giờ nói về mình nên những gì tôi biết về ông không nhiều. Mãi tới khi Báo Hànộimới làm sách Kỷ yếu 40 năm xuất bản hằng ngày, tôi tham gia nhóm biên soạn, mới có dịp đọc bài của ông.

Trương Uyên tên thật là Tô Úy, xuất thân trong một gia đình nho học, quê ở làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Cụ thân sinh đỗ cử nhân khoa Canh Tý nhưng không ra làm quan, chỉ ở nhà dạy học, làm thuốc. Vì thế, ông vào nghề báo rất sớm, chỉ với mảnh bằng tú tài triết học phần thứ nhất và cái năng khiếu bẩm sinh: viết và vẽ. Ngay cuối năm 1946, ở tuổi 18, ông đã thử sức cùng mấy bạn hữu gồm họa sĩ Mạnh Quỳnh, các nhà văn Xuân Thiêm, Nguyễn Hoài ra tuần báo Thiếu nhi và được cử làm Thư ký Tòa soạn. Nhưng báo xuất bản mới được 8 tháng, ra khoảng 60 số thì kháng chiến toàn quốc.

Rời Hà Nội, ông về quê, viết cho Báo Bãi Sậy ở đồng bằng khu 3 một thời gian. Năm 1949, ông trở ra Hà Nội làm cho tờ Thời Báo ra hằng ngày, trụ sở ở Hàng Than. Tới đầu năm 1950, tuần báo Gió Lốc ra mắt bạn đọc Hà thành, đóng trụ sở ở 191 phố Huế, do ông làm Chủ nhiệm kiêm Quản lý. Là báo trào phúng, Gió Lốc vạch trần âm mưu đen tối của bọn xâm lược và ngụy quyền tay sai, chống văn hóa nô dịch, dâm ô, đả kích những tên tai to, mặt lớn tham nhũng, hại nước, hại dân.

Và danh tiếng nhà báo Trương Uyên nổi lên trong Nghiệp đoàn Ký giả Bắc Việt. Tiếng lành đồn xa. Năm sau (1951) Tam Lang - tên thật: Vũ Đình Chí - trước khi vào làm báo ở Sài Gòn, liền tìm gặp và giới thiệu ông ở tuổi 24, đến thay làm Chủ bút Báo Giang Sơn ra hằng ngày, trụ sở ở 28 Lê Thái Tổ. Tại đây, ông có dịp thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, cái tâm trong sáng của một ký giả sống giữa lòng địch. Trong một chuyên mục đặt ở trang 4, ký tên Búa Đanh, Trương Uyên thẳng tay phê phán những chuyện xấu xa trong xã hội tạm chiếm, được độc giả đón đọc hằng ngày. Cũng thời điểm này, ông bắt được liên lạc với cán bộ hoạt động bí mật ở nội thành, nhận nhiệm vụ lấy tin vô tuyến điện, mua giấy nến và mực in gửi ra vùng kháng chiến. Công việc bí mật ấy tưởng đơn giản nhưng đòi hỏi một đầu óc tính toán chặt chẽ mới thực hiện trót lọt.

Đến tháng 7-1954, chủ báo Giang Sơn bỏ vào Nam. Báo bị ngụy quyền rút giấy phép. Ngày giải phóng Thủ đô lại tới gần. Để thể hiện tấm lòng mình vẫn hướng về chế độ mới, ông cùng anh em công nhân góp tiền, mua lại cái máy in cà tàng và thuê luôn giấy phép của một chủ nhà in để ra báo hằng ngày, lấy tên Báo Mới.




Số ra ngày 9-10-1954, Báo Mới đăng trên trang nhất "10 điều kỷ luật tiếp quản Thủ đô" và số ra ngày 10-10-1954, tường thuật cuộc đón tiếp đại quân từ 5 cửa ô tiến về Hà Nội, cuộc tiếp xúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu các tầng lớp nhân dân Thủ đô, cùng những chính sách ở vùng mới giải phóng. Báo in không kịp, bao nhiêu bán cũng hết, các chú "báo ơ" bán báo đến tận chiều cuối. Đây chính là điều nhà báo Trương Uyên sung sướng nhất.

Năm 1956, Trương Uyên sang làm Báo Thời Mới ra hằng ngày, chuyên trách đưa tin trong nước và thế giới, sau cùng họa sĩ Khánh Phú thiết kế ma két 4 trang báo. Tháng 1-1968, Báo Thời Mới hợp nhất với Báo Thủ đô Hà Nội thành Báo Hànộimới. Ông tiếp tục làm việc ở Ban Thư ký Tòa soạn, ngoài việc đưa tin, còn phát huy sở trường, viết nhiều chuyên mục và chính luận ở các ấn phẩm mới ra đời trong thời kỳ đổi mới với các bút danh Nguyễn Xuân, Nguyễn Công Tâm, Thái Hà, Hồng Trần, Trà My…

Tháng 3-1990, nhà báo Trương Uyên nhận quyết định nghỉ hưu nhưng vẫn được Ban Biên tập mời ở lại làm thêm. Với lòng yêu nghề, say mê với công việc hằng ngày của một tòa soạn, ông vẫn chăm chỉ đạp xe tới cơ quan làm việc. Tới giữa mùa thu năm 2002, ông bị tai biến mạch máu não, phải nghỉ hẳn để dưỡng bệnh... Và hôm nay, khi những đồng nghiệp thế hệ hậu sinh của ông đang tất bật chuẩn bị cho ngày trọng đại kỷ niệm 55 năm Hànộimới ra số hằng ngày đầu tiên - tờ báo mà ông đã gắn bó gần như cả cuộc đời làm báo, thì ông lại vĩnh viễn ra đi.

Trong giờ phút đau buồn này, nghĩ về ông, chúng ta tiếc thương một nhà báo say mê, tận tụy với nghề, ngày đêm làm việc cần cù, không nghỉ, cống hiến từ thuở thanh xuân đến phút cuối của cuộc đời cho sự nghiệp báo chí.

Thôi, xin vĩnh biệt cố nhân yên giấc ngàn thu…

Thọ Cao

 ❧ ❀ ❧

Tô Ngọc Thành

  

Tô Ngọc Thành là họa sĩ.

Họa sĩ Tô Ngọc Thành là con trai thứ ba của Danh họa Tô Ngọc Vân,
quê ở thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên,
hiện cư trú tại Hà Nội.

Họa sĩ Tô Ngọc Thành sinh năm 1940 tại Hà Nội. Năm 1946, ông theo gia đình tản cư, và sau đó cùng trường Cao đẳng mỹ thuật chuyển về chiến khu Việt Bắc. Cố danh họa Tô Ngọc Vân, cha ông, là hiệu trưởng đầu tiên của trường này.

Tô Ngọc Thành bắt đầu vẽ từ năm 4 tuổi.

1962: Tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Việt Nam
1974: Tốt nghiệp trường Đại Học Mỹ Thuật Tiệp Khắc
  • Hội viên Hội Mỹ Thuật Việt Nam
  • Hội viên Hội Văn Học Nghệ Thuật Hà Nội

TRIỂN LÃM CÁ NHÂN:
  • 1972: Triển lãm Cá nhân tại Tiệp Khắc
  • 1982, 89, 92, 93, 95, 98, 2000, 03, 05, 08, 10: Triển lãm Cá nhân tại Hà Nội
  • 2011: Triển lãm Cá nhân tại Phòng tranh Tự Do, TP. HCM


TRIỂN LÃM NHÓM: tại các nước Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Bungary, Đức.


GIẢI THƯỞNG:
  • Huy Chương Vàng, Liên Hoan Phim 1980
  • Giải Nhất, Phim Hoạt Hình, 1980
  • Giải Đặc Biệt của báo chí Liên Xô, Matxcơva.
  • Giải thưởng bìa sách và minh họa đẹp cho thiếu nhi 1982-1983
  • Giải Nhất đồ họa toàn quốc 1975-1985
  • Giải Nhất biểu trưng xóa đói giảm nghèo 1995
  • Giải Ba về sách mỹ thuật 1995
  • Giải Ba về tranh truyện cho thiếu nhi 1998
  • Giải thưởng tranh thiếu nhi quốc tế ở Áo và Nhật Bản 1951 - 1958
  • Giải thưởng về đồ họa tại Tiệp Khắc 1972 và 1974

Họa sĩ Tô Ngọc ThànhHọa sĩ Tô Ngọc Thành




SƯU TẬP:

Có tranh lưu giữ tại:
  • Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
  • Bảo tàng Mỹ thuật Châu Á – Thái Bình Dương (Ba Lan)

Có tranh trong nhiều bộ sưu tập tư nhân trong nước và thế giới


Các bài viết sưu tầm trên mạng

  1. Họa sĩ Tô Ngọc Thành: Đốt cháy đam mê cho hội họa - Lê Tự, 23/01/2013, Báo Đại Đoàn Kết Online.
  2. Cái đẹp và đa dạng trong tranh Tô Ngọc Thành - NGUYỄN THANH, 28/03/2012, Báo Lâm Đồng Online.
  3. Họa sĩ Tô Ngọc Thành: Đốt cháy đam mê cho hội họa - Trần Thế Hòa, 23/06/2010, Báo điện tử Kinh tế nông thôn.
  4. Triển lãm tranh, ký họa Tô Ngọc Vân (1906-1954) và triển lãm tranh Tô Ngọc Thành - Đoàn Đức Thành, 10/05/2011, KIẾN TRÚC VIỆT.
  5. Sa Pa trữ tình của họa sĩ Tô Ngọc Thành - THIÊN HƯƠNG, 12/09/2011, Tuổi Trẻ Online.
  6. Màu sắc của chính cuộc đời tại triển lãm tranh Tô Ngọc Thành - Hàn Thuỷ Giang, 14/04/2003, Việt Báo (Theo_VietNamNet)

  1. Hoạ sĩ Tô Ngọc Thành: "Kẻ độc hành" lặng lẽ - Hà Anh, 27/10/2011, Báo Công An Nhân Dân.
  2. 'Ấn tượng Sapa' qua nét vẽ con trai Tô Ngọc Vân - Thất Sơn, 21/09/2011, VnExpress.net.
  3. Sapa mộng mơ qua nét cọ Tô Ngọc Thành - Thất Sơn, 21/09/2011, VnExpress.net.
  4. Ngắm Thiên đường Sa Pa của Tô Ngọc Thành - Theo VTV, 22/2/2008, 60s.com.vn
  5. ẤN TƯỢNG VỀ THIÊN ĐƯỜNG SA PA CỦA HỌA SĨ TÔ NGỌC THÀNH - Lê Quốc Bảo-Hà Nội, 28/2/2008, Tạp chí Mỹ thuật.
  6. Lên Sa Pa gặp mây núi nhớ… cha - Tân Linh, 31/05/2009, Báo An ninh Thủ đô.





'Ấn tượng Sapa' qua nét vẽ con trai Tô Ngọc Vân


Tô Ngọc Thành, con trai cố danh họa Tô Ngọc Vân, giới thiệu đến công chúng TP HCM 34 bức sơn dầu miêu tả phong cảnh Sapa. Phảng phất trong tranh ông là tình yêu đặc biệt dành cho thiên nhiên, con người phố núi.

Họa sĩ Tô Ngọc Thành sinh năm 1940 tại Hà Nội. Năm 1946, ông theo gia đình tản cư, và sau đó cùng trường Cao đẳng mỹ thuật chuyển về chiến khu Việt Bắc. Cố danh họa Tô Ngọc Vân, cha ông, là hiệu trưởng đầu tiên của trường này.

Tô Ngọc Thành bắt đầu vẽ từ năm 4 tuổi. Suốt tuổi thơ sống ở miền núi, tâm hồn ông đắm chìm trong không gian bao la của đại ngàn, cũng như trong lối sống gần gũi với thiên nhiên, bình dị của người dân nơi đây. Những tình cảm này tự nhiên đi vào sáng tác hội họa của ông. Ông từng tâm sự, ngày bé, ông không chỉ được cha là họa sĩ Tô Ngọc Vân mà còn được các danh họa Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tư Nghiêm, Bùi Xuân Phái... dẫn đi rong ruổi khắp nơi để thưởng ngoạn cảnh đẹp đất nước. Chính điều này khiến tranh của ông luôn đậm hồn cốt con người, cảnh vật quê hương.

Trở về Hà Nội từ 1954, họa sĩ vẫn luôn tìm cơ hội trở lại miền Tây Bắc thuở nào để tìm cảm hứng sáng tác. Tô Ngọc Thành luôn chủ trương phải vẽ tại chỗ, không thể vẽ Sapa khi đang ngồi ở Hà Nội. Chính vì thế, những năm sau này, thời gian ông ở Sapa còn nhiều hơn ở thủ đô.
Sau những chuyến đi, số tranh vẽ về Sapa của Tô Ngọc Thành lại ngày càng nhiều. Màu xanh cây cỏ, núi rừng, màu nâu đỏ đất bazan, cùng nhiều màu sắc sinh động của sinh hoạt người miền cao được thể hiện trong tranh ông chân thật và giản dị.

Từ năm 1982 đến nay, Tô Ngọc Thành tham gia nhiều triển lãm chung, riêng trong nước và các nước trên thế giới như: CH Czech, Mỹ, Pháp, Nhật, Bungary, Đức... Ông từng đoạt nhiều giải thưởng, như: giải nhất họa sĩ phim hoạt hình 1980, giải đặc biệt của báo chí Liên Xô tại Moscow, Giải thưởng bìa sách và minh họa đẹp cho thiếu nhi 1982-1983, giải nhất đồ họa toàn quốcc (1975-1985), giải nhất biểu trưng xóa đói giảm nghèo 1995...

Ông có tranh được lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật châu Á - Thái Bình Dương (Ba Lan) và các bộ sưu tập tư nhân ở nhiều nước trên thế giới.

Triển lãm "Ấn tượng Sapa" của ông diễn ra từ ngày 10 đến ngày 28/9/2011 tại Gallery Tự Do, số 53 Hồ Tùng Mậu, quận 1, TP HCM.

Thất Sơn

Nguồn VnExpress

 ❧ ❀ ❧ 






Thiếu nữ Hmong

14
15


19

Mẹ địu con
Chợ người Dao

Hai người HMông tâm sự (2007).
Cô gái người Dao

20


Cô gái người Dao đỏ

Phố cổ Praha (1971)

Chợ người Dao
17

18


Tả Phìn (Sa Pa) (2007)

Người Dao đỏ (Sa Pa) đang thêu (2007)

Người HMông đi chợ (2007)


Cô gái Dao

Phố Ngõ Gạch (1986)

Đọc truyện cổ tích (1979)


7
Phụ nữ vùng cao
Năm cô gái Dao đỏ


Phong cảnh 9
11

12


Tranh phong cảnh
8
Xin Chải


Đường về Tả Vạn
Mai Châu
White Rocks


Đường về phố núi
Phong cảnh Bản Hồ
Thung Lũng Cát Cát


2
"Tà Phìn"
Phong Cảnh Ta Phin


Đảo Quang Lạn
Trẻ em vui chơi
3


4

5

15


Thiếu nữ (1999)




http://www.bichngoc-art.com/main/author/8.html